Monday, February 25, 2019

Lược Lại Chặng Đời - Trần Quốc Phiệt
Trả lời phỏng vấn ban biên tập Kỷ Yếu Viện Bảo Anh Huế.*
(Phát hành nhân ngày họp mặt lần đầu tiên tại Nam Cali. USA 2009)

CÂU HỎI PHỎNG VẤN (gởi qua email):
- Đề nghị thân hữu nói sơ về những ngày chinh chiến trên vùng đất "Ngũ Phụng Tề Phi" nơi mà theo người hiểu biết kể lại thân hữu là một người rất quen tên với
giới quân nhân.
- Thân hữu thường làm những bài thơ rất gần gũi với thực tế cuộc sống, hay hoài niệm dĩ vãng, xin cho biết lý do nào thân hữu thường chọn những đề tài này.
- Trong vài bài tản văn, thân hữu thường ca ngợi vẻ đẹp của đất thần kinh, theo chỗ chúng tôi biết thân hữu không phải là người gốc ở đó vậy thì tại lý do nào và thân hữu có viết về quê hương bản quán của mình hay không?
*
PHẦN TRẢ LỜI CỦA CỰU THÀNH VIÊN VIÊN BẢO ANH (VBA) TRẦN QUỐC PHIỆT

Trước hết tôi xin cảm ơn nhóm chủ trương in ấn Kỷ Yếu Viện Bảo Anh (VBA) Huế 2009 đã gởi đến tôi những câu hỏi đầy lý thú, để tôi có dịp gởi lời tâm tình đến anh em từng từ mái nhà ấy mà ra qua bao thế hệ, xin kính gởi lời chúc thân ái và tốt lành nhất đến với tất cả mọi người. Tôi cũng xin phép được trả lời cả hai loại câu hỏi chung và riêng cho thỏa lòng giải bày tâm sự.

Với tôi, VBA là một phần vô cùng quan trọng trong đoạn đời tuổi thơ, ngoài việc được học hành ở trường, tôi đã lớn lên và trở thành người từ sự tự uốn nắn trong đời sống tập thể này, đó là dấu ấn to lớn ảnh hưởng sâu đậm trong suốt cuộc đời, nói như vậy có nghĩa là chữ VBA đã gắn liền với tôi mọi lúc mọi khi.

VBA đã cho tôi những tháng ngày êm đềm của tuổi thơ, tuổi học trò đầy mộng mơ, với thời gian bảy năm dài sống dưới mái nhà nhân ái ấy, tôi vô cùng trân quý, những kỷ niệm vui buồn một thời đã đeo đẳng theo tôi qua những chặng đời thăng trầm: "Vẫn nhớ Viện qua từng giấc ngủ"...

Qua bài "tạp nhạp ghi" VBA Trong Nỗi Nhớ, tôi viết đặc biệt cho cuốn Kỷ Yếu này khá dài và rất chi tiết (hơn 12 ngàn từ), ở phần sau cùng, đó là nỗi lòng tan nát của tôi khi về Huế để thăm lại mái nhà xưa khoảng cuối năm Mậu Thân 1968. Ngoài ra tôi cũng trải lòng qua bài thơ "Nhớ về mái nhà xưa" và một số bài khác.

Trong niềm nhớ thương về dĩ vãng, tôi vô cùng hoan hỷ đón nhận tin cuộc họp mặt hội ngộ VBA mùa Hè 2009 tại Nam Cali, riêng cá nhân tôi, không có một lý do nào xác đáng để biện minh cho sự vắng mặt trong dịp may hiếm có này, tôi mường tượng cái ngày vui hội ngộ ấy chắc là niềm hoan lạc cho tất thảy mọi người và tôi, tôi chờ đợi trong niềm vui tràn đầy phấn khởi.

Nói về binh ngũ, tôi cũng có một đoạn đời khó quên với biết bao dấu vết còn lại trong thân thể và trong tâm tưởng sau cuộc chiến, ngồi ngẫm lại, xét về mình, tôi cho rằng mọi sự ở đời đều có số có mệnh.

Xuất thân khóa 22 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ đức, đơn vị tôi chọn là Thủy Quân Lục Chiến, khóa tôi lúc đầu chỉ nhận 9 người đi Nhảy Dù 9 người đi Thủy Quân Lục Chiến, 9 người về Phòng 7 Bộ TTM (Lôi Hổ). Nhảy Dù chọn trước tôi bị lọt sổ, nhưng tôi được TQLC nhận, thế cũng vui, vì giới trẻ vào lính ai cũng muốn được phục vụ đơn vị tổng trừ bị. Đến ngày mãn khóa chỉ Lôi Hổ nhận Thủ Đức, còn hai đơn vị Dù và TQLC thì không, nghe nói là họ đợi Võ Bị Đà Lạt sắp mãn khóa, nhóm chúng tôi buồn bã ghi danh vào những đơn vị tân lập.

Ra trường tôi cầm sự vụ lệnh trình diện Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Quảng Đà, loay hoay lòng vòng tôi lại về vùng đất Ngũ Phụng Tề Phi Quảng Nam. Ở đơn vị tác chiến từ Trung Đội Trưởng đến Tiểu Đoàn Trưởng. Ngoài 26 lần tuyên dương công trạng từ cấp Quân Đội xuống cấp Trung Đoàn, tôi còn nhận 4 lần chiến thương bội tinh và những huy chương chỉ huy tham mưu theo quân vụ. Tất cả cấp bậc tôi đều được thăng tặng đặc cách mặt trận.

Nói lại những điều này, không phải để khoe khoang, nhưng để cho các thân hữu VBA và ngay cả tôi tự hào rằng rằng VBA đã đào tạo ra những con người lanh lẹ và can trường, nơi đó không những cưu mang tôi những ngày khó khăn mà đã sửa soạn cho tôi những bước đi mạnh dạn khi vào đời.

Giai đoạn đầu tôi luôn ở đơn vị xung kích, biệt kích, trinh sát và trừ bị của tỉnh, nên có cơ hội cọ xát nhiều với hiểm nguy chiến trường, có thể nói là tôi có mặt ở những nơi sôi động nhất của tình hình, cho nên nói dầu sôi lửa bỏng thì hầu như triền miên. Để ngắn gọn đi vào câu hỏi xin kể lại vài điều đáng nhớ nhất.

Thời gian ở Biệt Kích Tây Hồ, là một đơn vị đánh giặc nổi tiếng nhưng rất khó chỉ huy, tôi đem cái "máu" VBA ra mà sống với thuộc cấp, họ thích và thán phục tôi, thế là tôi nói sao họ nghe và tin vậy, làm gì khó khăn nguy hiểm đều lăn xả, tốt đẹp vô cùng, Câu chuyện vui khó quên nhất đối với tôi là chuyện "Ăn Cơm Chợ".

Số là Sĩ Quan hành quân về, có hậu cứ lo hỏa thực những ngày nghỉ quân, nhưng tôi hay đi chơi cùng nhóm hạ sĩ quan trẻ và độc thân, thỉnh thoảng vào ăn cơm chợ, mỗi lần vào ăn cơm chợ, tôi cởi cái quai chảo Chuẩn Úy bỏ vào túi, mang thay vào cái lon Hạ Sĩ Nhất, phải công nhận cái lon Hạ Sĩ Nhất trông rất có duyên và đẹp, làm như vậy là sai quân luật , nhưng chỉ mang khi vào "Ăn Cơm Chợ" thôi. Ra đường thì cho quai chảo lên lại, làm bà con trong hàng cơm chợ đồn nhau "dưới Tây Hồ có Ông Hạ Sĩ Nhất trẻ lắm...", vì thời đó từ binh nhì lên Hạ Sĩ Nhất là cả một thời gian dài, đó là một chuyện vui khó quên khi ở đơn vị.

Về chiến trường, như đã nói trên, tôi đã tham dự hầu hết những trận đánh lớn. và hành quân quy mô trong khu vực, từ giải tỏa Tết Mậu Thân cho đến mùa Hè đỏ lửa bảy hai, bao nhiêu lần trực diện hiểm nguy, với nhiều lần đổ máu nói ra thì dài lắm, cà kê dê ngỗng, giấy không có chỗ mà ghi, xin kể lại kết quả một trận đánh "bốc lửa" nhất khi tôi còn là Đại Đội Trưởng Trinh Sát 161, đó là trận chiến giải tỏa Trà Kiệu, nhân lễ Kiệu Đức Mẹ, tôi không cảm thấy thích thú khi phải kể lại những đổ vỡ hoang tàn do chiến tranh gây nên mà tôi đã dự phần, là nhân chứng, xin chỉ ngắn gọn rằng đơn vị tôi đại thắng, nhưng để đạt được mục đích ấy, chúng tôi cũng phải đánh đổi với cái giá không nhỏ, bản thân tôi cũng bị thương nhẹ, và vẫn tiếp tục chiến đấu được.

Trong khi thị sát tại mặt trận, Tư Lênh Quân Đoàn lúc ấy là Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm, bằng một giọng nói "rất chi là" Quảng Trị, Ông nói: "Tau chưa có khi mô chộ một đơn vị cấp đại đôi mà lấy được chiến lợi phẩm nhiều như ri." Rồi ông quay sang tùy tùng: " Hướng, mi hỏi thằng Đại Đội Trưởng hắn ưa lấy Bảo Quốc Huân Chương Đệ Ngũ Đẳng hay ưa lên Đại Úy liền", tôi đứng đằng sau thấy Trung tá Vũ Ngọc Hướng xếp mình vào vị trí nghiêm và trả lời: "Nhận lệnh Trung Tướng".

Hôm sau khi đơn vị đã về hậu cứ, tôi được lệnh trình diện Đại Tá Tỉnh Tiểu Khu Trưởng, khi vào Bộ Chỉ Huy đã thấy Đại Tá Lê Trí Tín và Trung Tá Vũ Ngọc Hương đang đứng trước văn phòng Tiểu Khu Trưởng, tôi đứng nghiêm chào kính, cả hai vị bắt tay niềm nở, kèm theo những lời khen ngợi đơn vị do tôi chỉ huy, đồng thời gởi đến quân nhân các cấp quà tặng của khối chiến tranh chính trị, kèm một con heo quay của Linh Mục Chánh Xứ Trà Kiệu Lê Như Hảo cho, ngoài ra còn một phong bì đựng tiền, mà tôi hiểu rằng của Cha Hảo cho anh em binh sĩ uống bia khi ăn heo quay.

Sau đó tôi và Thiếu Úy Tâm Đại Đôi Phó tháp tùng Trung Tá Hướng đến nhà quàn làm lễ truy điệu các thuộc cấp đã hy sinh trong trận đánh, trong đó có Thiếu Úy Quang, trung đội trưởng Viễn Thám. Xong đến bệnh viện dã chiến thăm quân nhân bị thương. Trên đường đi cùng xe Trung Tá Hướng gợi ý là: "Cậu nên lấy Bảo Quốc Đặc Cách, còn Đại Úy hồ sơ đã chạy đặc cách cho cậu rồi, sẽ về thôi, trong lòng buồn vui lẫn lộn tôi trả lời: "Xin vâng lệnh Trung Tá..."  Trung Tá Vũ Ngọc Hướng sau này là Đại Tá Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 2/BB, hiện ở Úc. Ông đã viết một cuốn "Những ngày cuối cùng của cuộc chiến", có gởi cho tôi một bản in, trong đó Ông không quên nhắc đến tôi, một thuộc cấp mà ông quý mến.

Nhớ lại thời ở VBA, chúng tôi rất mê chuyện Tàu, để tiết kiệm tiền thuê trả cho nhà sách Khánh Quỳnh, anh em chỉ thuê một cuốn mang về một người nằm giữa đọc, cả nhóm nằm thành vòng tròn chung quanh cùng "luyện chưởng". Sau này khi vào lính cái mê ấy cũng không chừa cho nên dù hành quân, đồn trú đóng chốt khi nào cũng có chuyện Tàu trong ba lô, thế là có cái vốn chuyện Tàu khá phong phú trong người, khi đi tù lại mang ra cùng luyện với anh em. Ngoài ra tôi rất mê thơ, đọc và sưu tầm thơ từ khi còn học năm đầu đệ nhất cấp, với thơ, tôi không hề học cho thuộc nhưng đọc hoài thành ra thuộc rất nhiều bài, đi vào trong tim khi nào mà mình không biết. Tôi làm thơ rất sớm, khi còn đi học, khi ở tù, người từng giữ thơ của tôi trong tù là Hồ Tường, Tường hầu như là người chuyên nghiệp nằm nhà cùm, cớm nó theo dõi Tường khá chặt chẽ, may là không bị phát hiện, không thì chúng tôi cũng lảnh đủ với họ, bởi ngôn từ, nội dung tôi viết chẳng vừa vặn gì, thiệt chua cay! Hơn năm chục bài thơ tôi viết trong tù, tiếc là không giữ được đến bây giờ, chỉ nhớ lại một ít như:

Những bài thơ viết tự trong tù
Những ngôn từ phát từ địa ngục
Những nỗi đau hết còn biết nhức
Đã chai lì bầm tím dần quen
Những ngày giờ năm tháng triền miên
Những nỗi nhớ nhung không còn được nhớ
.................
(Những bài thơ viết ở trong tù)
Hạ Thái
Sơn La, 1978
.................
Sáng lạnh buốt xuống đồng sâu lầy lội
Đôi chân gầy run rẫy chạm va nhau
Thương bạn bè nhận những đòn đau
Vết hằn cháy còn nám màu oán hận

Ngày hai bữa nhận phần ăn hẩm
Nắm điểm tâm ngô hạt đếm đầu tay
Từng trưa chiều lưng chén vơi đầy
Hạt muối mặn tháng ngày trôi hờ hững

Hạ Thái
Nam Hà/ Ba Sao /1981

Tóm lại, tôi làm thơ rất giản dị, tất nhiên thơ phải có cảm hứng nhưng tôi chỉ viết những gì rất gần gũi với hiện tại, hay về những kỷ niệm trong cuộc đời, như hoài niệm tuổi thơ, đời lính, về quê hương, những năm tháng khốn đốn trong tù và những cảm xúc với cuộc sống qua từng giai đoạn. Thơ tôi đôi khi chỉ là một bài "rao", viết cho một mục đích tôi nhắm đến.

Văn xuôi tôi chỉ viết theo yêu cầu khi nhận lời viết cho những đặc san. Tôi thường viết về Huế đủ loại hình ảnh, lý do là tôi ở Huế quá lâu, có nhiều kỷ niệm với cố đô trong suốt tuổi thơ lưu trú dưới mái nhà nhân bản VBA. Sau Huế là Quảng Trị và vài vùng đất từng ở qua thời quân ngũ. Riêng Quảng Trị, về quê hương bản quán của tôi, tôi hãnh diện và thương yêu mảnh đất ấy, chính nơi đó là nơi khởi đầu cho tôi đủ mọi thứ trong cuộc đời: "Quê hương là những gì tưởng quên, nhưng thực ra mãi còn trong nỗi nhớ..."

Quê hương nỗi nhớ khôn cùng
Những ngày mưa gió bão bùng đong đưa
Những đêm trăng, những ngày mùa
Cành tre, bóng mát đình chùa, cổ am!

Hạ Thái
1994

Xin lấy bốn câu thơ tôi viết về quê hương mình để kêt thúc cho phần phát biểu, lần nữa xin gởi đến quý thân hữu lời chào hỏi nồng thắm, lời chúc tốt lành.

Trần Quốc Phiệt
2009
 *
 GHI THÊM
(Là lời chú thích khi sách đã phát hành)

* Kỷ Yếu VBA HUẾ đã phát hành tại Nam Cali năm 2009 nhân ngày hội ngô.
- Sách dày 520 trang, khổ 5.5 x 8.5, hiện đã có mặt khắp nơi từ Mỹ, Âu Châu kể cả Việt Nam. Đó là bộ sưu tập có giá trị đúng nghĩa với tên gọi KỶ YẾU. Đông đảo người góp bút, tất cả đều là cựu thành viên VBA qua nhiều thế hệ từ đầu tiên cho đến ngày phải khép lại vì biến cố Tết Mậu Thân 1968.
- Do hoàn cảnh lịch sử, tài lịêu không còn, tuy nhiên chúng tôi cùng nhau làm việc trong vòng gần một năm ròng rã để sưu tìm lại danh sách 620 cựu thành viên, còn sống hay đã chêt.
- Đặc biệt có vài niên trưởng dù tuổi đã rất cao ở rất xa xôi, không những chỉ viết bài cho Kỷ Yếu mà còn về tham dự như:
*Nguyễn Đức Giang, nguyên Giám Đốc Sở Học Chánh Nha Trang Khánh Hòa, lớp đầu tiên, nguyên giáo sư trung học đệ nhị cấp, hiệu trưởng trường Nguyễn Huệ rồi Võ Tánh ở Nha Trang, vượt biên và định cư ở Đan Mạch.
* Lê Thiên Hoàng nguyên Hiệu Trưởng trường trung học đệ nhị cấp Nguyễn Tường Tộ, Đà Nẵng.
Và một số niên trưởng từng đảm trách những vị trí không nhỏ trong chế độ VNCH.
Trong Danh Sách lật lại, chúng tôi nhận thấy có:
- Cố Đại Tá Lê Huấn
- Giáo Sư Lê Văn Chưởng Viện Đại Học Văn Khoa Sài Gòn
- Giáo Sư Nguyễn Mạnh Hùng Viện Đại Học Đà Lạt
- Nào Nghị Viên, Trưởng Chi Sở, Giáo Sư, Hiệu Trưởng, Sĩ Quan đủ các quân binh chủng từ Chuẩn Úy lên Trung Tá...Bác Sĩ, không thể ghi ra hết. (có trong K.Y)

Điều đáng nói là những người xuất thân từ mái nhà VBA Huế, là thành phần nghèo, họ được xã hội nuôi nấng đến khi đủ lông mạnh cánh tùy ý thích mà bay vào đời. Nhìn chung họ đã thành công trên đủ mọi lãnh vực, ra giữa chợ đời nguyên họ đã là tứ cố vô thân, tự mình đi lên bằng đôi chân của chính mình, không có thế lực để dựa lưng, không có tiền bạc để đút lót... Mái nhà ấy cũng đã cho họ sự tự tin, biết thế nào là sĩ nhục nên không một ai bò lên bằng đầu gối. Chúng tôi thương quý mến nhau, giữ cái tình anh em có trước có sau là như vậy!

Hôm nay lật lại trang sách cũ, gởi ra không ngoài mục đích để tri ân nột chế độ nhân bản, đã nuôi dạy chúng tôi. Ơn cao dày ấy không có lời nào để ca ngợi cho cùng.
Xin thắp một nén nhang tạ ơn người sáng lập đầu tiên (Đức Từ Cung) và quý vị nối tiếp thuộc Bộ Xã Hội VNCH.

Trần Quốc Phiệt
Thung Lũng Hoa Vàng ngày đầu năm Kỷ Hợi / 2019