của Phạm Đức Nhì
- Châu Thạch
![]() |
| Châu Thạch & Hà Nhữ Uyên |
Vừa
qua nhà thơ Phạm Đức Nhì có viết một bài “Bình thơ không bàn thi pháp”
trong đó ông kết tội Châu Thạch, Nguyễn Bàng và Bùi Đồng là đã bình thơ không
bàn thi pháp, theo lời ông là làm cho “thơ hay thơ dở đánh lộn sòng”.
Nhiều
thi hữu điện thoại với tôi, nói rằng anh Nhì muốn huậy để cho mình nổi danh
thôi. Họ yêu cầu tôi cứ nín lặng vì ai đúng ai trật thì đã có công luận phê
phán. Việc anh Nhì huậy cho nổi danh thì tôi không tin lắm vì anh đã có danh
nhiều rồi, đem cái danh ấy mà tranh chấp với tôi, thứ con dế dưới cỏ, thì chỉ tự
hạ mình xuống chớ nổi con khỉ gì.
Tôi
đã đồng ý nín câm luôn. Thế nhưng nghĩ đi nghĩ lại anh Nhì muốn chém tôi mà
không chịu chém thẳng, lại đem một thi sĩ thật hiền hòa ở Tây Ninh ra chém mới
thật là oan cho anh ấy. Thi sĩ Hà Nhữ Uyên, một người tôi chưa từng quen biết,
có thơ hay được thi hữu miền Nam mến mộ, lại bị anh Nhì đặt vào cái cẩu đầu trảm
chỉ vì cái tội là tôi đồng cảm với thơ anh ấy và viết lời bình cho bài thơ “Thềm
Xưa Em Đợi Người về”. Bởi vậy tôi xin có đôi lời phản biện để không phải
bênh tôi mà biện hộ cho Hà Nhữ Uyên, người đã vì tôi mà lên đoạn đầu đài.
Trước
hết nhà thơ Phạm Đức Nhì nói loanh quanh về các định nghĩa thi pháp là gì của
người xưa rồi cuối cùng anh tự định nghĩa sau đây:
“Thi
pháp (poetics) là phương pháp, quy tắc làm thơ - sử dụng vần, nhịp điệu (và các
phương tiện thẩm mỹ khác của thơ) nối kết các con chữ thành một thế trận để
chuyển tải thông điệp và cảm xúc của thi sĩ đến độc giả.”
Tôi
cũng đồng ý hoàn toàn với anh Nhì định nghĩa nầy nhưng tôi nghĩ theo định nghĩa
nầy thì thằng cha nào bình thơ mà “không bàn thi pháp” được nhỉ? Người
nào đã viết bình thơ mà có thể không bàn về việc tác giả “Sử dụng vần, nhịp
điệu, nối kết các con chữ thành một thế trận để chuyển tải thông điệp và cảm
xúc của thi sĩ đến độc giả”. Anh Phạm Đức Nhì nói Châu Thạch, Nguyễn Bàng,
Bùi Đồng “chỉ bình tán ý tứ mà không bàn thi pháp”. Vậy cái ý tứ đó có
phải là “sử dụng vần, nhịp điệu, nối kết các con chữ thành một thế trận để
chuyển tải thông điệp, cảm xúc” không nhỉ? Chẳng có nhà thơ nào mà không xử
dụng những cái ấy để đưa ý tứ của mình vào. Cho nên một nhà bình thơ “bình
tán ý tứ” của bài, chính là nhận xét cái tài “sử dụng vần, nhịp điêu,
con chữ” của họ hay đến đâu hoặc dở đến đâu. Anh Nhì nói chúng tôi “bình
tán ý tứ không bàn thi pháp” là chính anh đã “đánh lộn sòng con chữ”
chớ không phải chúng tôi. Một bài thơ mà không có ý, tứ và không biết sử sụng ý
tứ đó cho hài hoà, độc đáo thì là bỏ. Khi chúng tôi khen một bài thơ hay là
chúng tôi khen tác giả có tài thi pháp, có ý tứ hay của thơ và có cả ý tứ trong
sáng tác để kết cấu bài thơ gây cảm xúc cho người.
Bây
giờ xin bước qua biện hộ cho bài thơ của Hà Nhữ Uyên.
Bài
thơ như sau:
THỀM
XƯA EM ĐỢI NGƯỜI VỀ
Em
đợi người bên Thềm Xưa trầm lắng
nhặt
bâng quơ hạt nắng ngủ trên bàn
ly
phin đá nhẩn nha từng giọt đắng
nhặt
hoài mong lạc mười ngón tay đan.
.
Em
khắc khoải đợi một dòng tin nhắn
thèm
giật mình khi nghe tiếng chuông reo
chiếc
điện thoại cũng tảng lờ im ắng
ném
niềm vui như chiếc lá bay vèo.
.
Mắt
ngân ngấn “Người ơi” - em khẽ gọi
đợi
tiếng người trầm ấm phía bên kia
mà:
“… rất tiếc, số này không kết nối”
ngỡ
trời tình ai thổi tắt trăng khuya.
.
Buồn
vây ráp đêm dài thêm sợi tóc
tựa
vào đâu ấm áp một bờ vai?
em
cố dặn: thôi đừng mau mắt khóc
dẫu
muộn phiền có thể chẳng nguôi khuây.
.
Người
gieo lại nửa hồn nghe ngơ ngẩn
nửa
trên tay em bồng nắng về rừng
như
thạch thảo bên tường mưa ướt cánh
nghe
con chim góa bụa hót rưng rưng.
.
Em
khờ khạo xới lên miền cổ tích
như
mối đùn trăm nỗi nhớ về nhau
khi
yêu dấu môi hôn chưa nhàm nhạt
ai
cam tâm hờ hững tự khi nào?
HÀ NHỮ UYÊN
-
Phạm Đức Nhì chê:
1/
Nhịp điệu: Mỗi câu 8 chữ, mỗi đoạn 4 câu, đọc lên nhịp điệu đều đặn tẻ nhạt.
Tác giả tự trói buộc mình trong quy luật của thơ mới nên tâm thế, phong thái
không được tự do.
-
Châu Thạch biện hộ:
Xin
hãy đọc đoạn thơ trong bài Ave Mari của Hàn Mạc Tử:
Như
song lộc triều nguyên ơn phước cả
Dâng
cao dâng thần nhạc sánh hơn trăng
Thơm
tho bay cho đến cõi Thiên Đường
Huyền
diệu bến thành muôn linh trọng thể
Toàn
bộ bài của Hàn Mạc Tử đều mỗi đoạn 4 câu và mỗi câu 8 chữ. Bài thơ nầy đã trở
thành bất hủ.
-
Phạm Đức Nhì chê:
2/
Vần: Vần gieo cả 1/3 lẫn 2/4 kỹ lưỡng (6 đoạn 12 cặp vần, không bỏ sót cặp
nào), có nhiều cặp gieo chính vận nên hội chứng nhàm chán vần rất nặng, đọc 2
đoạn đã thấy giọng “ầu ơ”. Thêm vào đó, tác giả lại còn chơi cả yêu vận (vần
lưng)
-
Châu Thạch biện hộ:
Mời
đọc bài thơ “Trên Đường Về” trong tập thơ Điêu Tàn của Chế
lan Viên có 7 đoạn và 14 cặp vần gieo 1/3 lẫn 2/4 không bỏ sót cặp nào.
Xin
đơn cử một đoạn thôi:
Đây
những tháp gầy mòn vì mong đợi
Những
đền xưa đổ nát giữa thời gian
Những
sông vắng lê mình trong bóng tối
Những
tượng Chàm lở lói rỉ rên than
Bài
thơ nầy cũng cũng đã trở nên biểu tượng của thơ.
-
Phạm Đức Nhì chê:
3/
Dòng chảy của tứ thơ: Bài thơ gồm 6 đoạn, mỗi đoạn 4 câu diễn tả một ý riêng biệt;
từ đoạn trước sang đoạn sau không bắt vần nên tứ thơ đứt đoạn, phân tán, không
có dòng chảy.
-
Châu Thạch biện hộ:
Đọc
bài thơ Tràng Giang của Huy Cận:
Sóng
gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con
thuyền xuôi mái nước song song.
Thuyền
về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi
một cành khô lạc mấy dòng.
.
Lơ
thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu
tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng
xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông
dài, trời rộng, bến cô liêu.
.
Bèo
giạt về đâu, hàng nối hàng;
Mênh
mông không một chuyến đò ngang.
Không
cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng
lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
.
Lớp
lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim
nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Lòng
quê dợn dợn vời con nước,
Không
khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
Đọc
bài thơ Tràng Giang của Huy cận ta thấy có 4 đoạn, mỗi đoạn diễn tả không những
một ý riêng biệt mà còn một cảnh riêng biệt. nhưng tất cả cũng chỉ mục đích là
miêu tả Trường Giang. Từ khổ thơ trước qua khổ thơ sau cũng không hề bắt vận. Ở
đây bài thơ “Thềm xưa em đợi người về” mỗi đoạn tỏ bày một tâm tư
của em, và tất cả cũng để nói lên nỗi lòng của người ngồi bên “Thềm xưa em đợi
anh về”. Thiết tưởng liên kết của các ý thơ còn sít sao và trôi chảy hơn Tràng
Giang nữa.
-
Phạm Đức Nhì chê:
4/
Cảm xúc: Cảm xúc tạo được ở đoạn nào nằm tại đoạn đó, không chảy thành dòng để
có sự tiếp nối “sóng sau dồn sóng trước” tạo cao trào, hình thành hồn
thơ. Cảm xúc phần lớn ở tầng 1 (câu, chữ hay), rất ít ở tầng 2 (thế trận), hoàn
toàn không có cảm xúc ở tầng 3 (cao hứng, nổi điên). Với vóc dáng này Thềm
xưa em đợi người về chắc chắn không thể có hồn thơ.
-
Châu Thạch biện hộ:
Khổ
1: Em đợi chàng với sự nóng lòng hiện lên trên cử chỉ
Khổ
2: Em khắc khoải mong chờ và giật mình mỗi khi tưởng có tin anh
Khổ3:
Măt ngấn lệ, em gọi tên anh những đến trăng khuya cũng tắt.
Khổ
4: Em cố nhủ lòng thôi đừng phiền đừng khóc nhưng muộn phiền vẫn chẳng nguôi
khuây.
Khổ
5: Anh gieo vào lòng em nỗi sầu như hoa Thạch Thảo bên tường mưa ướt, như con
chim hóa bụa hót rưng rưng.
Khổ
6: Em khờ khạo nên để mối đùn trăm nối nhớ. Ngược lại anh thì cam tâm hờ hững tự
bao giờ.
Bài
thơ có một nối kết rõ ràng từ khổ 1 cho đến khổ 6. Cảm xúc “sóng sau dồn
sóng trước’ và mỗi lúc một cao độ hơn. Cuối cùng tác giả dùng hình ảnh tổ mối
đùn lên để nói về nỗi nhớ thật là sống động đến độ tuyệt vời.
Sở dĩ người viết dùng thơ của các nhà thơ đã đi vào văn học sử để
so với thơ của Hà NHữ Uyên chỉ để chứng minh tác giả đã khôn khéo xử dụng thi
pháp như những tài danh đã xử dụng. Không phải thi pháp ấy làm cho bài thơ dỡ
như Phạm Đức Nhì đã kết luận. Ngoài ra
người viết tất nhiên, không dám đem thơ Hà Nhữ Uyên để so về mặt cao thấp với các thi tài đã vang danh một thời.
Tóm lại theo tôi, đây là một
bài thơ hay. Mà dẫu tôi có bình sai, anh Phạm Đức nhì thấy không hay thì cũng
chẳng nên đem búa ra để đập bài thơ của một tác giả ra như thế, mà lại phê phán
quá bất công với nhà thơ ấy. Tôi thấy anh Nhì còn lấy những tiêu chuẩn thơ của
chính anh tự đặt như một vị thầy để chê thơ anh Phạm Đức Tùng không phải là thơ
nữa.
Tôi
nhớ trước đây trong “Câu Chuyện Văn Chương” nhà thơ Lê Mai Lĩnh
có nói như sau về việc Phạm Đức Nhì đã bình “Tống Biệt Hành” của
Thâm Tâm:
“Thế nhưng vừa qua, người anh em tôi, nhà thơ Phạm Đức Nhì đã
chọn một cách rất “không bình thường” để phân tích, mổ xẻ TƯỢNG ĐÀI THÂM TÂM TỐNG
BIỆT HÀNH:
Ông
đã đem BÚA TẠ, KỀM KINGSIZE, ĐỤC KINGSIZE, XÀ BENG KINGSIZE , THUỐC NỔ QUEEN,
BAO TAY PRINCESS,,,,
Ông
TRỤC, KÉO, LÔI PHO TƯỢNG ĐÀI THÂM TÂM TỐNG BIỆT HÀNH ra khỏi TRÁI TIM NHỮNG NGƯỜI
YÊU của THÂM TÂM TỐNG BIỆT HÀNH”
Sau
đó nhà thơ Lê Mai Lĩnh nói thêm như sau:
“Thưa
anh nhà thơ PHẠM ĐỨC NHÌ:
1/Anh
nói: TÔI DÀNH SỰ PHÁN XÉT SAU CÙNG CHO ĐỘC GIẢ.
Vậy
tôi đề nghị anh NÊN NÓI LỜI XIN LỖI VỚI ANH CHÂU THẠCH. Bài của nhà phê bình
CHÂU THẠCH rất HÀN LÂM, NGƯỜI LỚN.
2/
Mặc dù anh đã HÀN GẮN NHỮNG VẾT ĐỤC ĐẼO lên PHO TƯỢNG TỐNG BIỆT HÀNH, những sự
MẤT MÁT VẪN CÒN, NIỀM ĐAU CŨNG CÒN.
Vậy anh nên viết bài tạ lỗi với độc giả của T.Vấn & Bạn Hữu, rằng anh đã chạm vào tình cảm YÊU THƠ của họ dành cho THẦN TƯỢNG THÂM TÂM.”
Vậy anh nên viết bài tạ lỗi với độc giả của T.Vấn & Bạn Hữu, rằng anh đã chạm vào tình cảm YÊU THƠ của họ dành cho THẦN TƯỢNG THÂM TÂM.”
Hôm
nay Châu Thạch tôi cũng xin dùng câu đó để nói lại với anh Phạm Đức Nhì nhưng
không phải biểu anh xin lỗi tôi hay xin lỗi anh Nguyễn Bàng, anh Bùi Đồng mà chỉ
khuyên anh nên xin lỗi nhà thơ Hà Nhữ Uyên vậy./.
CHÂU
THẠCH
