Thường mỗi lúc đi lễ chùa hay có các ngày hội lớn của
Phật giáo, chúng ta thường thấy ngoài cờ Phật giáo ngũ sắc còn có hình tượng
của các chư vị Phật, Bồ tát v.v…Trong những hình tượng đó, chúng ta vẫn thấy có
những ký hiệu, hình thể biểu tượng nhiều vấn đề khác nhau. Chữ VẠN trong Phật
giáo chúng ta cũng thường thấy là một trong những biểu tượng của Phật giáo.
Chữ Vạn thuộc trong phần kinh điển bí truyền của Phật giáo, gọi nôm na là “thuộc giáo lý bí truyền”. Nói đến giáo lý bí truyền, chúng ta phải
nghĩ ngay đến Phật giáo Mật Tông .- Khái
niệm về Mật giáo: Vì sao phái này có danh xưng là bí mật Phật giáo, lược gọi
là mật giáo?Có những lý do như sau:
. Vị giáo chủ của
tông phái này không phải là Đức Phật Thích Ca như một số người lầm tưỏng mà
chính là pháp thân của đức Thích Tôn tự là Đức Đại Nhật Như Lai hay còn gọi
theo Phạn âm Đại Tỳ Lô Gia Na Phật. Nhưng Đại Nhật Như Lai hay Đại Tỳ Lô Gia
Na Phật (Mahavairocana) là vị nào? Các tông phái Đại thừa hay Mật Giáo đã giãi
thích Phật có đến 3 thân : Pháp Thân-Báo Thân-Ứng Thân.
1/ Pháp Thân Phật
: Theo tiếng Phạn: “Varocana Buddha.
Thường đuợc dịch là Đại Nhật Như Lai, biểu tượng nhân cách cho Pháp Thân của
chân lý vốn sáng rực rỡ như mặt trời hư không bao la, ngài ngự ở thế giới: Hoa Tạng Trang Nghiêm (Kusumatala, Garba, Vyuhalamkara, Lokadhatu). Thế giới được kết dệt bằng một
ngàn cảnh hoa sen. Trong truyền thống Đại Thừa, những kinh điển siêu việt tri
kiến như Hoa Nghiêm,(Avatamkara) Phạm Võng (Brahmajaqla) đều do ngài giảng thuyết, mà chỉ có bậc đại Bồ Tát mới nghe và thấy đức Phật, hiện thân của chân lý
này, Quốc độ của ngài đuợc gọi là Thường Tịch Quang Tịnh Độ.
2/ Báo Thân Phật: (Sambhogakaya) Còn gọi là Thọ Dung Thân,
là bản thân tâm linh của các Bồ Tát, được Bồ Tát thọ dụng như là kết quả do tu
tập các Ba La Mật. Các ngài tự mình thành tựu, điều này tùy theo định luật
nhân quả trên phương diện đạo đức trong đây các ngài giãi trừ trọn vẹn tất cả
những sai lầm và ô nhiễm, thành tựu công đức tu hành trải qua ba đại kiếp mà
được.
3/ Hóa Thân Phật: Hay còn gọi là Ứng Hóa Thân, Biến Hóa
Thân (Nirmanakana) phát sinh từ Đại bi tâm (Mahakarana) của chư Phật và Bồ Tát. Bằng lý thể của Đại Từ Bi mà các ngài hướng tới chúng sinh, các ngài không bao giờ thọ
dụng những kết quả các hành vi đạo đức của mình. Chí nguyện thiết tha của các
ngài là chia sẻ những kết quả này cho tất cả chúng sanh. Nếu có thể thay thế kẻ
phàm phu chịu khổ nảo, Bồ Tát thực hiện ngay. Kẻ phàm phu có thể đuợc giác ngộ
do Bồ Tát hồi hướng công đức của mình cho, ngài sẽ thi hành ngay.
Bồ tát hồi hướng và
chịu khó thay cho chúng sanh nhờ biến hóa thân của ngài. Do đó trong tính cách không gian, Bồ Tát chia thân mình thành
trăm nghìn ức vô số thân. Ngài có thể hóa thân làm nhiều vật khác nhau kể cả
Thánh, Ma Vương, nếu ngài cảm thấy cơ duyên thích hợp để cứu vớt thế gian ra
khỏi kềm tỏa của vô minh.
Trong Mật Tông có nhiều
mật ấn, pháp ấn, chỉ ấn, phép Quán Đảnh. Có các ký hiệu tạo Pháp thuật.
Pháp Ấn linh phù. Nói chung trong Mật Tông và Nam Tông truyền thừa đều có những
mật chú, ấn chú. Nhưng chữ VẠN đã có sẳn trong Mật giáo, nhưng chữ VẠN không
thuộc loại đó mà chữ VẠN là TƯỚNG . .
Chữ VẠN: tiếng Phạn
(Svastika) một biểu tượng chữ thập với bốn góc vuông về góc phải và hướng sang
phải, có hướng các đầu mút xoay ngược chiều kim đồng hồ (Đường đi rẻ phải)
Tên gọi là Svastika, gồm chữ SV và ASTI
ghép lại. Hiểu theo tiếng Phạn có nghĩa là : Phúc Lộc, An Khang, thành
công, thịnh vượng. Biểu tượng chữ VẠN của Ấn Độ Giáo lại được trang trí thêm
các chấm tròn ở các góc một phần tư (1/4). Đây là biểu tượng của sự may mắn,
đã từng xuất hiện lần đầu khoảng 16.000 đến 14.000 trước công nguyên. Biểu tượng
này được lấy từ ý tưởng từ việc quan sát vũ trụ, hệ mặt trời, thể hiện nơi
phát sinh ra nguồn sống vô tận.
- Chữ VẠN
là một trong 32 tướng tốt của Phật, vị trí trên ngự . Biểu hiện cho công đức
vô lượng của Phật. Trong tín ngưỡng Ấn Độ giáo, chữ VẠN được đồng hóa với thần
Vishnu, liên kết với thần Shiva và thần rắn Nagar.
- Chữ VẠN
là PHÙ HIỆU hay HUY HIỆU – Không phải là một chữ viết. Chữ VẠN được viết xoay
bên Phải hay bên Trái đều ĐƯỢC. ( Tuy đã có một số nhà nghiên cứu về Phật giáo
tranh luận kết quả vẫn chưa đưa đến thống nhất). Tuy nhiên chữ VẠN có một
chiều sâu mà thực tế không thể ngã theo một cách viết duy nhất hoặc TRÁI hay PHẢI được.
Sơ lược:
- Ở Ấn Độ, Phật giáo và Bà La Môn giáo, Ký Na
giáo đều đã xử dụng chữ Vạn. Đầu tiên quan niệm ký hiệu này là do sợi lông ở
ngực của Phạm Thiên.Tỳ Thấp Nô. (Visnu) Cát
Lật sát Noa (Krsna) Coi đây là dấu hiệu tốt lành. Theo tiến sĩ Quang Đảo Đốc đại
học Quốc Sĩ Quán (Nhật Bản) thì chữ VẠN
vốn không phải chữ viết. Từ thế kỷ thứ tám trước công nguyên mới được dùng
trong kinh Phật. Đến thế kỷ thứ nhất sau công nguyên đổi tên thành Swastiko.
Vốn là tướng hình trôn ốc túm lông đầu con
trâu, lại biến thành lông ngực của thần chủ Tỳ Thấp Noa. Sau đó trở thành một
trong 16 tướng tốt, rồi lại là 32 tướng tốt.Theo kinh Trường A Hàm . Chữ VẠN
là tướng tốt thứ 16 trước ngực của Phật. Còn theo Đại Tất Già Ni Cán tử Sở
thuyết thì hình chữ Vạn là một phần của Pháp Luân. Ký hiệu của Pháp luân Đại
Pháp. hình chữ vạn là tượng trưng cho Phật. Ở Trung Hoa hình chữ Vạn là tượng
trưng cho hiện thân của khái niệm bất diệt vô tận và vũ trụ. Từ Trung Hoa ký
hiệu này được đọc là VẠN. Trong tiếng Phạn gọi là Srivatsa.
- Chính chữ Vạn này đã có ở Bắc Mỹ. Các con
tem thư đã cho lưu hành để gợi lại những ngày tháng trước kia Hitler với cuộc
tàn sát những ngưòi Do Thái của chủ nghĩa
Phát Xít Đức. Đó là biểu tượng may mắn, tốt lành, vô tận hoàn toàn
khác hẳn với huy hiệu của Đức Quốc Xã đã
xử dụng..
- Trong Pháp Luân Đại Pháp biểu tượng gồm có
các ký hiệu: chữ Vạn+ Âm Dương (thái Cực). Ở đây hai khái niệm (Lão Tử) mà đại
diện là Thái thượng Lão Quân xem
Âm dương
là vũ trụ thu hẹp . Phật giáo xem chữ VẠN là đại diện cho vũ trụ.
- Nguyên
nhân A.Hitler lấy chữ VẠN để làm huy hiệu cho Đức Quốc Xã:
- Nguyên bức tượng Đức Phật 1.000 năm tuổi do đội thám hiểm của Đức Quốc Xã tìm thấy vào năm 1938. Tượng được tạc từ
phiên thạch gọi "Iron Man”. Phát hiện
này được đăng trên tạp chí khoa học Hành tinh Đức. Sau khi một nhóm khoa học
tìm hiểu thiên thạch chứa hàm lượng NiKel nhiều nhất Thiên thạch lớn nhất từng
được biết đến có tên Hoba, nặng vào khoảng 60 tấn. Do tiến sĩ người Đức tên
là Elmar Buchner
của Đại học Stuttgart phát hiện. Không rõ tượng đuợc phát hiện như thế nào nhưng
nguyên nhân khiến nó đưọc đưa về Đức là vì giữa bức tượng có khắc chữ Swastika, một biểu tượng xuất hiện trong nhiều nền văn hóa thế giới có nhiều tôn giáo
khác nhau, nhất là ở Ấn Độ và các quốc gia Á Châu. Đó là chữ “VẠN” của Phật
giáo và dấu thập ngoặc của Đức Quốc xã. Sau đó thì bức tượng trở thành tài sản
của bộ sưu tập cá nhân Munich (Sau này được nghiên cứu vào năm 2007).
Vào năm 1940 A. Hitler đã xử dụng biểu tưởng
theo lối của Đức Quốc Xã như chúng ta đã biết. Lẽ dĩ nhiên trong đó cũng ngầm
có ý tưởng riêng của Hitler.
- Có một vài giả thiết nghĩ rằng huy hiệu của Đức
Quốc Xã là hai chữ S nằm xiên chồng nhau
với ý là State Social (Quốc Xã) là
hoàn toàn sai.
- Sở dĩ xưa nay có 2 chữ Vạn khác nhau ở chổ
xoay chiều trái và phải là do: Khi Ấn Độ Giáo dùng chữ Vạn (xoay chiều trái)
để biểu thị cho Nam Tính thần. Chữ Vạn (có chiều xoay bên phải) để biểu thị
cho Nữ Tính thần. Đối với Phật giáo có đôi tháp cổ hiện còn ở vườn Lộc Dã chữ
trên tháp hoàn toàn là chữ Vạn có chiều
xoay về trái. Ngôi
tháp này là kiến trúc thời kỳ vua A Dục được xây dựng để kỷ niệm nơi ngày xưa
Đức Phật đã nhập định.
- Tại
Tây Tạng tín đồ Lạt Ma Giáo cũng thường dùng chữ vạn có chiều xoay về
trái. Tại Trung Hoa đã qua nhiều đời xử dụng cả hai cách. Riêng Huệ Lâm Âm
Nghĩa và Cao Ly Đại Tạng Kinh chỉ xữ dụng chữ vạn xoay về trái .. Có nghĩa là
tùy theo lập trường khác nhau .. Do vậy, việc chữ vạn xoay theo chiều nào tùy
theo sự suy nghiệm từng nơi hoặc từng vùng. Vì vậy,vấn đề đầu mối tranh luận chưa ngã ngũ trong hàng học giả của
Phật giáo.
- Cũng
theo “Đại tất Già Ni Kinh“ thì chữ Vạn là tướng tốt thứ 80 của Phật Thích Ca,
nằm trước ngực. Trong Thập địa Kinh Luân quyển 12 có nói: “Khi Bồ Tát Thích
Ca chưa thành Phật, giữa ngực có tướng chữ Vạn Kim Cương, biểu thị cho công đức
trang nghiêm. Nhưng theo kinh “ Phương Quảng Đại Trang Nghiêm“ quyển 3 có nói
đầu tóc của Phật cũng có 5 tướng chữ Vạn. Trong “Hữu Cộ Tỳ Nai Da tap Sư”quyển
29 nói lưng Phật cũng có tướng chữ Vạn. Trong kinh Đại Bát Nhã quyển 381 nói rằng: Chân, tay, ngực của Phật đều có cát tướng để biểu thị công đức của Phật. Đó
là chữ Vạn.
- Cưu Ma La và ngài huyền Trang dịch chữ Vạn là
Đức. Ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch là "Vạn” đều biểu thị ý nghĩa công đức tràn đầy. Âm của chữ Sriwatsaksawa ban đầu không được đưa vào kinh sách. Đến năm Võ Tắc Thiên, mới đặt chữ này và đọc là VẠN, nghĩa là nơi kết hợp
của muôn điều tốt lành.
Tóm lại
qua các tôn giáo, các kinh điển lưu truyền từ mấy ngàn năm của nhiều tôn giáo có nguồn gốc
tương tự Phật giáo thì chữ VẠN trong Phật giáo bao hàm nhiều ý nghĩa sâu xa và
bí mật. Chắc chắn chúng ta chưa đủ khả năng trình độ để lý giải trọn vẹn ý
nghĩa đuợc.
Một vài điều sơ kiến kính xin đóng góp với qúy vị vài nét đơn cử xuyên qua
Phật Pháp căn
bản hiện hành.
Trân trọng,
Lê Hoàng
*
-
- Sách
tham khảo : Philosophies of History ( Grace E. Cairns).
- : The Gods of Northern Buddism (Alice Getty)
.
- : Phật Giáo Việt Nam
.
Ghi chú : Hình
chữ Vạn thứ nhất Tem chữ Vạn Bắc Mỹ .
Hình thứ 2 :Chữ Vạn và âm dương .
Hình thứ ba :Hình chữ Vạn Ấn Độ
giáo .
Hình thú tư : Chữ Vạn trong Hoa Sen


