NGƯỜI GIỮ
NGỌN LỬA
THẦN -
Bút Nguyên Tử
Ở trong vùng, miếu đình thờ thần, tướng
ông quan ông thì nhiều, miếu bà lại hiếm nên khi nghe người bạn vốn làm bên văn
hóa rủ đi thăm miếu Nữ Tướng làng Lệ thì tôi tán thành ngay. Anh bạn vốn làm
công tác nghiên cứu sử học, chuyên đi tìm bằng chứng lịch sử. Anh hay tuyên bố
là phải bóc cái vỏ huyền thoại cho lịch sử hiện ra, phơi bày mọi thứ dước con
mắt khoa học lịch sử. Còn tôi chỉ là dân
ba phải, cái gì cũng hay, thấy lạ là háo hức. Hai đứa làm một chuyến tham quan bỏ túi.
Làng Lệ không xa lắm, xe bon về huyện, cứ
theo hướng rẽ chạy băng đồng , lướt theo đường cái xã hơn tiếng đồng hồ thì
tới. Hỏi đường vô miếu Bà Tướng, mấy người dân đầu làng bảo cứ rẽ cho hết đường, quẹo bên phải, qua
một đoạn đường ruộng thì thấy nhà bà Tó. Hỏi bà ấy chỉ cho. Con đường làng tre
xanh phủ kín, không khí trong mượt, mát dịu buổi sáng lâng lâng cùng với sự háo
hức. Cũng thật bất ngờ, trrong cái thời công nghiệp hiện đại bây giờ mà ở đây
không khí thôn dã vẫn còn nguyên. Gió qua rặng tre xào xạc, những tia sáng mặt
trời xiên qua kẽ lá, những bóng nắng lung linh in vàng trên đất, những mảnh
vườn xanh mượt, những ngôi nhà xinh xắn núp dưới bóng cây thỉng thoảng vẳng mấy
tiếng chim gù. Một vùng đậm bóng quê trong thơ văn ngày cũ.
Qua một đoạn đường đồng khấp khểnh, ngôi
nhà bà Tó hiện ra. Gọi là nhà thực ra chỉ một túp lều nhỏ tồi tàn biệt lập chơ
vơ giữa đồng như điểm nối giữa làng mạc với đồng ruộng mả mồ. Một cháu bé thấy
chúng tôi ngoài cổng đã ù chạy vào nhà rối rít gọi bà. Vào đến sân đã thấy một
bà cụ hom hem bước ra, che trán nheo mắt
nhìn chúng tôi móm mém cười xuýt xoa:
- “ Phúc đức quý hóa quá! Cứ để xe đây bà
cháu tôi giữ cho, qua thăm miếu rồi ra. Chân giày chân dép mà lội ruộng cực
đấy. Mà đây, cầm mấy nén nhang thắp cho Bà, Bà hộ trì cho- Bà lão vừa nói vừa
rút mấy nén nhang đưa cho tôi, miệng rối
rít: Quý hóa, quý hóa quá!”
Đứng ở sân bà Tó có thể nom thấy miếu Bà
Tướng khuất sau mấy hàng bia mộ, phải qua một nghĩa địa, lội một khúc đường
ruộng mới tới được.
Mấy đưa trẻ đang thả trâu ăn cỏ, một đám
đang túm tụm đánh đáo, một vài đứa ngồi vắt vẻo trên thành miếu thấy chúng tôi,
biết là người thăm thì tụt xuống đứng qua một bên. Một đứa trong bọn bảo: -“Muốn thắp nhang thì
phải mở cửa miếu”. Nói xong, nó bước vào đẩy tách hai cánh cửa nhỏ xíu ra hai
bên. Tượng Bà Tướng hiện ra, Bà ngồi, mặt
mày uy nghiêm, mắt nhìn thẳng như có uy lực làm người xem phải rùng
mình. Đội kim khôi, mang võ phục, một tay chống kiếm, một tay gãy cụt. Bệ thờ
tạc hình ngựa chiến. Hình như tượng được đắp bằng vôi vữa, người ta mới sơn
phết lại, cái lạ là cổ tượng được quấn bằng một tấm vải điều còn mới tinh.
Trước mặt là một hộc nước trong veo, ngoài cùng là một bát nhang. Anh bạn tôi
đốt mấy nén nhang, vái ba vái rồi cắm vào bát. Hương thơm tỏa sực nực rồi nhè
nhẹ lan xa. Lùi ra, bây giời mới có dịp ngắm miếu. Chỉ là một ngôi miếu nhỏ cao
chưa quá đầu người, bề ngang hơn thước, thời gian lổ chổ rêu phong, không kẽ vẽ
điêu khắc gì. Trước miếu là bãi thả trâu, còn cả mấy vũng trâu đằm bùn đất nhão
nhẹt, không có cây cối gì nên miếu trở nên quá trơ trọi, gió đồng thổi lộng ào
ào. Một ngôi miếu nhỏ thờ nữ tướng, nữ tướng ấy là ai? Một ngôi miếu nhỏ đơn sơ
không chút công phu kiểu cách, không có vẻ âm u huyền bí mà sao nổi tiếng vang
danh? Hương thơm tỏa ra xa. Mấy đứa trẻ chăn trâu tản đi, tôi và anh bạn ngắm
nghía, tha thẩn nghĩ suy.
Bà cụ Tó đón chúng tôi sẵn. Vừa bước vào
sân , bà đã vọng tiếng:
-“Quý hóa quá! Xa xôi đâu không biết mà
cũng ghé thăm Bà, Bà phù hộ cho! Vô đây ngồi nghỉ, uống chén nước!”
Chúng tôi vào nhà, bà cụ đã sai cháu nhỏ
pha trà ra hai chén. Nước trà xanh, bốc khói. Căn nhà lụp xụp nhưng nằm giữa
đồng khơi nên thoáng mát đến lạ. Bà cụ mau mắn vào chuyện:
-“Đi thăm vậy mà đã biết chuyện tích Bà
tướng chưa?- Và bà kể- Xưa Bà là tướng cầm quân đánh giặc. Đội quân Bà bị giặc
đông mạnh bao vây, Bà chỉ huy đội quân mình chống trả đến cùng, lớp chết lớp bị
thương, Bà cũng bị một nhát chém vào cổ, phải mở đường máu chạy. Cần cổ đứt
muốn rời, Bà phải sửa lại cho ngay rồi phi ngựa thoát. Dọc đường, tay giữ cổ,
tay cầm cương, máu phun đầm đìa. Gặp bọn trẻ chăn trâu bên đường, Bà gò
cương hỏi:-“Như ta đây, bị thương thế này
có chết không?”Lũ trẻ nhìn rồi nhao lên:-“Dũng tướng như Bà, chết làm sao
được!”
Bà lại tiếp tục phi ngựa, chạy một đoạn
đến làng Lệ , gặp một đám người lớn, Bà gò cương hỏi:-“Như tôi, bị thương thế
này có chết không?”Đám người lớn ngắm nghía rồi lắc đầu:-“Bị thương đứt cả cổ
thế này thì chắc chết!”
Nghe chết, Bà ngã vật xuống. Dân làng
hoảng hốt chôn tạm xác Bà xuống gò đất
bên đường- chỗ gò đất dựng miếu Bà hiện nay đó.
Trước đây có con đường bên cạnh nhưng nay người ta dời xa ra thành con
đường huyện đấy.
Không biết vì thua trận uất chí hay giận
dân làng vì câu nói gỡ mà oan hồn không
tiêu, Bà phạt. Những người nói Bà chết bỗng nhiên bị chứng câm, chỉ ú ú ớ ớ,
muốn nói cũng không thành tiếng. Cả làng hoảng kinh tin chắc rằng miệng mồm
phàm tục lỡ phạm oai linh nên sửa một lễ cầu cúng. Khấn rằng do dân tình ngu
dại lỡ lời phạm thượng, nay xin lập miếu tô tượng thờ làm phúc thần để Bà sống
mãi với dân làng. Quê hương bản quán Bà đâu không biết, tuổi tên Bà cũng không
tường nhưng vì việc nước non mà Bà ngã xuống đất làng thì con dân làng đây xin làm con cháu Bà để lo tế tự. Cảm lòng
thành, Bà cho những người kia nói lại được ngay. Thế rồi tùy hỉ tùy tâm, gom
tiền góp sức xây ngôi miếu nhỏ, tạc tượng thờ Bà.”
Anh bạn tôi gặng hỏi:
-“Thế miếu dựng khoảng mấy trăm năm rồi?
Có biết bà là nữ tướng đời nào? Đánh giặc gì không?”
Bà cụ lắc đầu:
-“Xưa truyền thì nay giữ. Ngay từ thuở tôi
còn nhỏ xíu, bà cố tôi cũng kể lại vậy thôi chứ mấy trăm mấy nghìn năm làm sao
biết. Mà tên tuổi là để gọi người còn Bà là thánh thần thì cần chi tên tuổi,
hỏi truy hóa ra phạm thượng, ai dám! Có điều miếu tích thật thì Bà cũng có
thật.”
Tôi bấm tay anh bạn, nhìn kĩ người bà cụ
Tó rồi thầm nghĩ: Một cụ bà lụm cụm tưởng như khù khờ thế mà kể sự tích suôn sẻ, hình như sự tích
đã thấm sâu vào trong máu, nhập tâm cả đời người, được nghe được kể hàng trăm
hàng nghìn lần rồi. Câu hỏi của anh bạn
tôi khó là thế, các nhà sử học chắc cũng phải lục tìm hàng tháng hàng năm mới
hi vọng trả lời thế mà bà cụ quê mùa này lại hóa giải vừa đơn giản dễ dàng tự
nhiên vừa đậm vị triết lí sâu sắc. Hình như ở bà có hai con người, một bề ngoài
quê mùa ngờ nghệch nhưng ẩn chứa trong đó một trí tưởng sắc sảo thâm trầm.
Anh bạn tôi lại hỏi tiếp:
-“Bà Tướng uy linh thế sao dân làng không
xây miếu Bà thật lớn mà chỉ là ngôi miếu con? Bây giờ ở đâu, làng nào vùng nào
người ta cũng đều xây tô, mở rộng, nổi đình nổi đám, nhìn miếu Bà đây tránh sao
khỏi chạnh lòng?”
Bà cụ Tó cười, nhẹ nhàng bảo:
-“Thần linh chứ miếu đâu có linh, thần
thánh chứ đâu phải người phàm mà đòi ngự nhà cao của rộng. Phật tại tâm thì
thánh thần cũng ở trong lòng, cái chính là tấm lòng thành.”
Tâm trạng hoang mang ngẫm nghĩ về con
người bà cụ, nghe đến đây, tôi càng lạ lùng, sửng sốt. Bà đang triết lí, đang
thuyết giáo hay đang ngẫm chuyện thế sự.
Lời hỏi của anh bạn làm tôi sực tỉnh.
-“Đơn sơ thì cũng phải giữ sao cho tôn
nghiêm chứ, trước miếu Bà có cả vũng trâu đằm, thành miếu còn dấu trâu cà dính
đất,thậm chí trẻ chăn trâu còn ngồi leo lên cả miếu.”
Bà
cụ cười:
-“Lạ vậy đó. Người lớn phải kiêng khem,
ngày lễ ngày cúng mới tới, ai cũng phải giữ gìn từ lời ăn tiếng nói đến đi
đứng, cử chỉ còn bọn chăn trâu muốn làm gì thì làm mà chẳng bao giờ bị rầy rà
gì.”
Tôi nói xen vào:
-“ Chắc bà cũng nghĩ chuyện xưa, Bà bị
thương nặng thế mà chúng vẫn ca ngợi, vẫn bảo Bà không thể chết. Nói Bà không
thể chết tức là truyền cho Bà sự sống, Bà nhớ ơn.”
Bà cụ lúc lắc gục gặc:
- Không biết nữa! Thấy ai cũng kiêng dè,
chỉ có bọn chăn trâu là coi Bà như bạn bè chúng, đùa giỡn với Bà mà chẳng việc
gì cả. Thậm chí hàng năm lễ bà, mấy bô
lão còn phải để cho bọn trẻ chăn trâu vào trước mở đường, xin phép sau đó mới
lục tục vào lễ lạy. Thành thói quen, đến miếu Bà phải kiêng nói chết, sợ Bà quở
về cấm khẩu.”
-“Thế sao tượng bà lại cụt mất một cánh
tay?”
- “Đó là tội của thằng ăn trộm.”
-“Bà linh thế mà vẫn bị ăn trộm bẻ cụt
cánh tay sao?”- Bạn tôi hỏi giọng mỉa mai.
Bà cụ thong thả:
- “Thế mới là chuyện. Xưa ở làng Lộc kế
bên thờ đứa ăn trộm làm thần. Không biết tên trộm này đi trộm cắp ở đâu, khuya
về ngang làng thì chết. Chết nhằm giờ thiêng sao đó mà hiển linh nhập vào
trưởng làng, bắt cả làng phải thờ cúng bằng không sẽ gây họa. Làng sợ phải lập
đình thờ nó làm thành hoàng. Làng Lộc giàu có thế nhưng xưa kia có tục ăn cắp.
Mỗi năm,nhà giàu nhà nghèo gì không biết, phải đi qua làng khác hoặc ra chợ ăn
cắp một món lớn nhỏ gì cũng được cho thành hoàng vui lòng, không thì sẽ bị quở
trách. Dân làng Lộc đến đâu cũng bị khinh ghét, thấy mặt là người ta đề phòng,
chửi bóng chửi gió. Đi trộm xa mất công, trộm lớn không nổi mới sinh chứng trộm gần, trộm vặt khi con gà con vịt,
khi cái cuốc cái rựa, thậm chí trái ớt trái cà đến cái chổi cùn cũng ăn trộm cho có, cho đủ lễ. Biết là bị những người
trong vùng khinh miệt nhưng thần đã bắt, không làm không yên. Cũng tội nghiệp
cho họ chứ ai muốn trộm cắp làm gì, có điều lớn trộm nhỏ trộm, nhà nào cũng
trộm lâu dần quen thói.Ngay cả trong lễ hội cúng đình thì cũng chơi những trò
chơi trộm cắp. Thờ thần trộm nên người ta kiêng chữ trộm mà nói thành “mượn”.
Thần trộm ngang nhiên lộng hành, cả làng phải sợ. Thần trộm còn xúi biểu một
tên trong làng qua miếu Bà định ăn trộm luôn tượng Bà. Tên trộm gở cạy không
được nên bẻ luôn cánh tay đem về để lên bệ thờ cúng báo thần trộm.
Tay Bà vừa đưa lên bệ thì ngôi đình phát
hỏa, tượng ác thần với áo mão nghi trượng thờ cúng bốc cháy ra tro chỉ cánh tay
Bà còn nguyên vẹn. Cả làng đổ bệnh, người nào cũng bị liệt hẳn cánh tay. Truy ra là do tên trộm đã bẻ mất cánh tay Bà
Tướng nên Bà nổi giận. Làng bên tỉnh ngộ, xin thờ Bà làm phúc thần, bỏ tục thờ
thần trộm, chấm dứt thói tệ ăn cắp. Mọi người mới mạnh khỏe bình thường trở
lại.
Từ đấy thành lệ, năm nào cũng vậy, làng
Lộc chuẩn bị cúng đình thì trước đó các
bô lão phải hương hoa qua miếu xin rước Bà. Bà trở thành phúc thần của cả hai
làng. Nhờ bà mà làng Lộc thoát khỏi tay
ác thần. Dần dà các làng chung quanh đều hiểu, bỏ dần thói dị nghị và đối xử
với dân làng Lộc trong tình anh em. Tuy Bà không ra oai nhưng những người làng
khác cũng sợ, cả vùng yên ổn, hiếm nghe chuyện trộm cắp.”- Bà cụ thở dài:- Đói
cho sạch, nghèo thì khổ nhưng khổ vẫn ngửng mặt được với người chứ mang tiếng
trộm cắp thì xấu hổ nhục nhã lắm, đâu dám chường mặt với ai.”
-“Mà sao không lắp lại cánh tay cho Bà?”-
Anh bạn tôi hỏi vặn.
Bà cụ cười:
-“Thì tay bà có mất đâu, làng Lộc vẫn thờ.
Ngày trước nghe đâu người ta cũng định đưa cánh tay về ghép lại nhưng dân làng
Lộc một hai khẩn cầu xin được giữ một
phần thiêng liêng của Bà, dân làng Lệ thấy cũng hợp tình nên đồng ý. Bà ở hai
nơi, bên kia là ngọn, bên này gốc.”
Tiếng lợn kêu eng éc ngoài chuồng, bà
lão giật mình nhắc đứa cháu nhỏ đi cho
ăn. Té ra nãy giờ nó vẫn ngồi ở góc nhà há hốc mà nghe kể. Rõ là đứa bé từ khi có
khách đã linh hoạt năng nổ hẳn, chắc đã hàng chục lần nghe bà kể sự tích Bà
Tướng với khách nhưng sao nó háo hức chăm chú thế. Sự tích bà kể như cấy vào
tâm hồn thơ ngây của nó ngọn lửa, nó cũng nuôi dưỡng ngọn lửa đó chờ ngày tỏa
sáng.
-“Ở gần chắc bà qua lễ bái Bà Tướng thường
xuyên?”- Bạn tôi hỏi.
Bà lão như cảm thấy có lỗi:
- “Hồi trẻ có viếng một đôi lần, còn bây
giờ già rồi. Bà Tướng ở đó đâu có xa, ai đến thăm cũng qua đây, mình tưởng đến
cũng như lễ với Bà rồi, Bà đâu có
trách.”
Tôi
xen vào:
-“Như vậy, bà đến với Bà Tướng cái chính là một tấm lòng.”
Bà móm méo cười:
-“Thì tâm thành thần thánh chứng tri.”
Trời đã trưa, chúng tôi xin phép cáo từ,
bà Tó cảm động:
-“Quý hóa quá! Xa xôi thế mà cũng biết tìm
tới thăm BàTướng, Bà phù hộ cho mạnh giỏi! Quý hóa!”
Đường về, thấy bạn trầm ngâm, tôi gợi ý:
-“ Vẫn tiếp tục tìm hiểu để xé toạc bức màn lịch sử chứ?”
Anh ta cười, lắc đầu:
-“Lịch sử đã đã thấm vào trong máu thịt, mong manh thế mà sâu đậm vững
chắc, như mạch nước ngầm vẫn chảy, như
lửa than vẫn âm ỉ trong lòng người, đã thành thần tích.”
Tôi
chêm vào:
-“Và như vậy lịch sử đã thăng hoa.”
Bạn tôi gật gù:
-“Đúng thế!”
Bút
Nguyên Tử
12/08
– 2/09