Từ Mộ Tù Binh Đến Thơ Dư Mỹ - Châu Thạch
Một hôm tình cờ tôi đọc trên dòng facebook của
Giao Văn Lê những lời như sau và ảnh một người thắp hương cho những chiếc mộ
hình như vừa được quét vôi màu trắng và
vàng: “Gởi anh Dư Mỹ và quí cựu tù binh trại Kỳ Sơn nhìn
mộ phần bạn ta nằm lại.”
Giao Văn Lê
viết thêm ở phần bình luận ở dưới như sau:
“Chỉ có con thiếu tá Khoái về làm, và gia đình
anh bộ đội phục viên xin miếng đất chôn mộ tù binh bỏ tiền xây dựng. Theo lời
anh nói với tôi: Hăng năm vào cuối tháng chạp anh tổ chức lễ cúng rất tươm tất-
không biết có sự cảm ứng thế nào mà gia đình ảnh làm ăn phát tài phát lộc. Đây
cũng điều lạ sau cuộc chiến. (Anh bộ đội quản trang bất đắc dĩ nói: Tôi thấy
quá lạ, ngoài con ông Khoái ra, suốt 36 năm không thấy vợ con các ông về thăm!)”
Giao Văn Lê viết thêm:
“Những lời tôi ghi trên là sự thật. Anh bộ đội tha
thiết mời tôi ở lại đêm với anh, tôi thích lắm muốn có đêm say với bạn minh,
nhưng người đưa tôi đi dứt khoát không ở lại - đành thôi giã biệt. Qua 6 năm
nén chặt chưa viết được bài thơ! Xin nhờ ai viết hộ.”
Người viết
bài nầy xúc động muốn làm môt bài thơ nhưng ý và tứ chưa đến thì ở dòng thời
gian facebook của Du My Du My tôi đọc được những dòng chữ và bài thơ sau đây:
“Nhân mùa Lễ Tạ Ơn trên đất Mỹ, nói thay cho những
bạn tù đã chết còn nằm lại trên vùng đất Bông Miêu Kỳ Sơn lời cám ơn đến người
"bộ đội phục viên" đã trùng tu lại những ngôi mộ tù binh bị bỏ quên. Cám ơn Giao Văn Lê đã về thăm lại trại 3 và thắp nhang cho những bạn tù năm
xưa.”
TẠ LÒNG TỪ ĐÁY MỘ SÂU
Ngủ yên cùng núi non ngàn
Một thời cũng đã dọc ngang hào hùng
Chết vì mệnh nước cáo chung
Gửi hồn trong cõi trùng trùng u minh
Qua rồi một cuộc chiến chinh
Bạn - Thù xưa được chút tình hôm nay
Nằm trên vùng đất lưu đày
Đã tan thù hận những ngày đao binh
Khói hương thoang thoảng lời kinh
Âm cung trần thế vọng tình thiên thu
Bông Miêu đêm lạnh sương mù
Vẫn nghe hơi ấm bạn - thù bên nhau .
Tạ lòng từ đáy mộ sâu
Cám ơn người lính bạc đầu hôm nay.
DƯ MỸ
(11/2017)
Dưới bài thơ, ngoài những lời bình luận của nhiều
người thì Giao Văn Lê cũng viết thêm:
“Theo lời anh bộ đội nói: Em là người thứ 2 tìm về
thắp nhang cho mộ bạn tù. Điều đó đúng sai không có ý nghia, nhưng sướng nhất
là thỏa mản cái tâm nguyện từ lâu, đồng thời trên bước đường vào Nam lòng day
dứt không là tại sao thân nhân của người bạn tù ấy không ai tìm lại (ngoài con
t/tá Khoái) làm em miên man suy nghĩ chắc qua cuộc đại biến ấy, vận nhà cũng
trôi theo vận nước...sạch sành sanh hết rồi thì phải! Qua sáu năm em chấp bút
nhiều lần để hình thành bài thơ đưa vào tập cuối đời, nhưng thấy chưa thỏa mản
đành bỏ. Đến hôm nay được đọc bài thơ cúa anh TẠ LÒNG TỪ ĐÁY MỘ SÂU đã như
nói hộ em- chỉ 14 câu thôi đã gói gọn nội dung nỗi lòng rồi. Sướng quá sự Ngẫu
Hứng Lục Bát Tình.”
Đúng vậy, Giao Văn Lê nhận đinh bài thơ “Tạ Lòng Từ
Đáy Mộ sâu” là “ngẩu hứng lục bát tình”
cũng đúng vì có lẽ bài thơ sáng tác rất mau trong một phút chạnh lòng. Thế
nhưng nếu tôi nói bài thơ là “Tích Tụ Lục bát Tình” thì chắc cũng đúng vì bài
thơ chất chưa những u uẩn trong lòng đã lâu, nay có dịp mới hóa thành thơ. Bài
thơ là bạch thơ, không có ẩn dụ gì nhưng nó lại chất chứa biết bao nhiêu thăng
trầm của một thế hệ chịu đau thương và
riêng thân phận của những linh hồn tù binh mà xác còn gởi lại trên núi cao. Tôi
không nói gì thêm vì chắc chắn mỗi người đọc nó dầu phe bên nầy hay bên kía đều
xúc động và đều có nhiều suy nghiệm sâu xa.
Sau đó tôi mở facebook để tìm hiểu về Du My Du
My (tức nhà thơ Dư Mỹ). Thấy nhà thơ Dư Mỹ là bạn của Trần Trung Đạo, Lê mai
Lĩnh tôi hoảng hồn. Đây là những nhà thơ tôi cảm phục và tôn trọng. Vậy thì Dư Mỹ
không sự phụ thì cũng sư huynh của mình rồi. Tôi đọc trên dòng thời gian của Dư
Mỹ tìm được những bài thơ thượng thừa. Tuy thế những bài thơ thượng thừa của
các thi nhân thành danh thì thường ít cho tôi cảm xúc, mà tôi thường tâm đắc với
những bài thơ ngẩu hứng của họ. Như hôm nay tôi thú vị với bài thơ “Gọi Nợ” của
nhà thơ Dư Mỹ. Bài thơ như sau:
Ngẫu Hứng Lục Bát Tình
GỌI NỢ
Gọi đò - đò đã xa bờ
Gọi trăng - trăng đã khuất mờ trong mây
Gọi tình - tình vỗ cánh bay
Gọi em - còn lại tháng ngày tịch liêu
Ta - con chim vịt kêu chiều
Bên sông lẻ bạn quạnh hiu lạnh buồn
Em còn nợ mấy nụ hôn
Ta còn réo gọi tận cồn bãi xa
Khàn hơi gọi gió bay qua
Tan theo khói sóng chiều tà trên sông .
Bởi em khất nợ theo chồng
Ta trăm năm gọi vẫn không được gì.
DƯ MỸ
Tôi đã đọc nhiều bài thơ nợ đời, nợ tình, nợ tiền,
nợ em, nợ mẹ. Hầu hết là thi nhân nợ người ta chớ không ai dám bảo rằng người
ta nợ mình. Cũng vì thế mà đọc bài thơ “Gọi Nợ” tôi thích thú vì nghiệm ra trên
đời mình cũng làm chủ nợ nhiều lần. Mà
có lẽ theo như thơ nầy thì không mấy ai lớn lên, biết yêu đương mà không thành
chủ nợ. Ở khổ thơ đầu, trước khi gọi
tình, gọi em thì nhà thơ gọi đò và gọi trăng. Từ hai câu thơ đầu ta thấy “đò đã xa bờ”, “trăng đã khuất mờ
trong mây" nên không gian xa vắng. Nhờ đó khi tác giả cất tiếng gọi tình, gọi
em làm ta tưởng tượng được “tháng ngày tịch liêu” của tác giả như một bức tranh
sầu mà lung linh đẹp.
Qua khổ thơ thứ hai tác giả ví mình là com chim vịt,
không phải là một con chim quý có bộ lông màu sặc sỡ. Chim vịt thật tầm thường
nhưng lại làm cho bài thơ hay thêm vì ta thấy được số phận của đời nó đã hẩm
hiu lại hẩm hiu thêm khi “Bên sông lẻ bạn quạnh hiu lạnh buồn”. Hay quá khi đọc
hai câu thơ tiếp: “Em còn nợ mấy nụ hôn/Ta còn réo gọi tận cồn bãi xa”. Câu thơ
trên giống như đùa chơi nhưng ngược lại bổ nghĩa cho câu thơ dưới da diết, vang
vọng và thiết tha trong tiếng gọi đến “tận cồn bãi xa”.
Qua khổ thơ chót nhà thơ giãi thích món nợ của em
với mình. Chuyện tình bình thường thôi nhưng người thơ đã “khan hơi” đứng bên
sông để gọi. Tiếng gọi tan theo khói sóng. Cho đên trăm năm nhà thơ vẫn còn đứng
gọi trong cô đơn giữa khung trời cao rộng đó.
Hay của khổ thơ là ở chổ tác giả vẽ nên một bức tranh lồng lộng giữa trời,
nhân vật đứng đòi nợ hóa hình trong bức tranh đó, làm cho tình yêu tha thiết
ngân vọng trong cả không gian và thời gian.
Tòan bộ bài thơ ta thấy nhiều bức tranh sống động
dựng lên. Bài thơ không có từ nào hoa mỹ cả nhưng lại vẽ được nhiều bức tranh
hoa mỹ se buồn mà lại thấm thía thịt da.
Cho tôi gởi lời xin lỗi nhà thơ Dư Mỹ vì dám phạm
thượng lý la lý lắc chạm vào thơ đàn anh. Thật tình tôi không dám dùng chữ
“bình thơ” đâu. Trời cho tôi làm con dế dưới cỏ thì chỉ biết gáy thôi.
Châu
Thạch
