Tuesday, January 6, 2015

Lý Lịch Con Chữ H.O. - Song Nhị

Trong những cuộc thương thuyết sơ khởi, vì chúng tôi không hy vọng hai bên sẽ có ngay những giải pháp chính trị, cho nên tất cả những hành động mở đường cho những thỏa ước tương lai đều được mang danh “Humanitarian Operation” (chiến dịch nhân đạo), gọi tắt là H.O ...
... at the time of the original negotiations, there was no hope of any immediate political resolution between the two nations, all actions taken in furtherance of the agreements reached were termed "humannitarian operations". Consequently, the term HO. [John W. Vessey]

1. Đã gần 20 năm kể từ ngày nghe đến tên tuổi người đàn bà xa lạ - bà Khúc Minh Thơ - mà tôi, một trong số hàng trăm ngàn tù cải tạo và đại gia đình HO mang ơn, lần đầu tiên gặp bà tại San Jose, tháng 2- 2005.

Trong bộ y phục giản dị, với phong cách người phụ nữ Nam Bộ, thoải mái, tự nhiên bà tiếp chúng tôi tại phòng khách tư thất của ông bà Minh Triết, một thương gia của Sài Gòn trước năm 1975. Sau nụ cười và hỏi chào vồn vã, câu nói đầu tiên của tôi: “Tôi rất hân hạnh được gặp chị để nói lời cảm ơn mà tôi canh cánh trong lòng mấy chục năm qua”. Nở nụ cười thật tươi trên khuôn mặt đôn hậu hằn nét thời gian, bà đáp lời tôi mà cũng như nói cho mọi người cùng nghe: “Tôi đã được đọc một hai số Nguồn khi đang nằm trong bệnh viện. Khuôn khổ tờ báo rất gọn, dễ đọc. Tôi phải mổ cái chân, nên còn chống gậy đây nè.”
Tôi nói với bà: “Còn đau chân, mà chị về San Jose đi chơi hay có việc gì?”, bà cười: “Nơi nào có tù nhân chính trị kêu, nơi nào có gia đình HO gọi là tôi tới ngay”.

Câu chuyện giữa những người xa lạ lần đầu tiên gặp nhau mà không mấy chốc trở nên giòn dã, thân tình như đã có một sự đợi chờ từ lâu lắm. Bà kể vắn tắt một vài việc bà đã làm cho tù nhân chính trị, cho chương trình HO. Bà nhắc đến một số nhân vật Việt Mỹ đã có công giúp bà thiết lập được nền tảng cho cơ cấu Families of Vietnamese Political Prisoners association (Hội Gia Đình Tù Nhân Chính trị Việt Nam). Bà nhắc đến ông Robert Funseth, Thứ trưởng Ngoại Giao đặc trách Á Châu Sự Vụ, người đã bỏ ra 10 năm theo đuổi cuộc mặc cả với CSVN về chương trình HO.

Tôi nhắc lại bài báo của ký giả Nguyễn Ngọc Chấn viết cho CNN ngày 16 tháng 6 - 2004 nhân lễ tang TT Reagan (ngày 11 tháng 6) dưới tựa đề: “Bà Khúc Minh Thơ, hai lần khóc Tổng thống Ronald Reagan”. Bài báo viết: “Trong cuộc tiếp kiến tháng 12, 1988, bà Khúc Minh Thơ khẩn cầu:
-“XinTổng Thống và nước Mỹ đừng bỏ rơi những tù nhân Việt Nam Cộng Hòa”.
Tổng thống Ronald Reagan ôn tồn:
- “Những người anh hùng Việt Nam sẽ không bao giờ bị bỏ quên”.
Bà Khúc Minh Thơ đã bật khóc vì không ngăn được nỗi xúc động.

Nghe tôi nhắc lại, bà nói:
“Phải rồi, hồi đó TT Reagan tiếp tôi tại phòng danh dự, Phòng Bầu Dục của Bạch Cung. Ý nghĩa của cuộc tiếp xúc nói lên rằng các anh tuy phải chịu đựng những đớn đau tủi nhục, bị mất mát gần như tất cả, có người mất cả gia đạo vợ con, nhưng cái lớn lao mà các anh không mất là phẩm giá; các anh vẫn còn nguyên vẹn danh dự. Cuối cùng các anh ra khỏi tù, các anh đi ra, cả thế giới chào đón các anh.”

Nghe bà nói, đến lượt tôi rướm cay trong đôi mắt. Dĩ vãng ấy, quá khứ ấy không dễ gì để quên. Tôi xúc động vì vết thương kia tưởng đã lành mà khi bị khều lại vẫn còn nhức nhối. Tôi xúc động vì những gì tôi suy nghĩ, tôi cưu mang nay chính con người “liễu yếu đào tơ” kia; chính con người nữ nhi đã ra tay hành hiệp ấy nói cho tôi nghe. Tôi được bà hứa sẽ cho tôi thêm một số hiểu biết khác về những con người, về những chặng đường gian nan của hành trình nhân đạo ấy. Tôi được bà hứa sẽ “release” cho một ít tài liệu liên quan khi tôi cần tìm hiểu.

2.
Đã có nhiều bàn luận ở chốn riêng tư và một số bài viết về hai con chữ có tầm vóc thời đại gắn liền với một giai đoạn lịch sử của dân tộc sau cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn kéo dài trong hai mươi năm trên hai miền đất nước, kết cuộc chỉ có hận thù, đổ vỡ tan hoang, mọi giá trị truyền thống dân tộc băng họai như hôm nay.

Nếu nhìn lại những ngày ảm đạm của tháng 6-1975 khi tất cả sĩ quan, viên chức VNCH bị lùa vào các trại tập trung, rồi lần lượt được phân bố đi các trại tù nơi rừng sâu núi thẳm trong Nam và các trại tập trung tận các vùng núi rừng heo hút, trùng điệp miền Bắc, đến khi - trừ những người đã chết - tất cả lần lượt được thả về, rồi nườm nượp lên máy bay rời bỏ quê hương, thoát khỏi cảnh ngược đãi, lưu đày trên chính xứ sở của mình, thì quả là một giấc mơ của cô bé Lọ Lem trong thần thoại nghìn lẻ một đêm.

Hành trình một H.O không giản dị, dễ dàng như những gì người ta nhìn thấy. Không đơn giản với các khâu làm thủ tục dịch vụ xuất cảnh với Công an, khám sức khỏe với IOM, và lên máy bay với HCR... Không mau chóng như trường hợp nhiều gia đình người chồng vừa được thả về năm 1988 thì đầu năm 1990 cả nhà lên máy bay sang Mỹ. Hành trình này khởi đầu bằng nhiều nỗi cam go, bằng tấm lòng và công sức của nhiều người mới hình thành và đem lại kết quả đó. Hành trình này, nếu nhìn xa hơn từ ngọn nguồn thì phải kể trước hết là chính sự chịu đựng mọi cực hình, tủi nhục của người tù bị đày đọa trong các trại cải tạo.

Con người khi đứng trước mọi tai họa đang dẫn tới đường cùng nếu không có niềm tin tuyệt đối và không vì bản năng sinh tồn mà vươn tới thì chắc chắn sẽ khó mà tồn tại. Tôi đưa ra kết luận này từ kinh nghiệm sống chết mà tôi nhìn thấy, tôi trải nghiệm trong hơn ba ngàn ngày nơi các trại tù từ Nam ra Bắc. Một trong những niềm tin phải có của người tù tập trung cải tạo, không án văn, không thời hạn giam giữ, là niềm tin phải tồn tại, phải có ngày về, phải có ngày làm lại, như Linh mục Nguyễn Hữu Lễ đã viết thành tác phẩm “Tôi Phải Sống”. Tôi phải sống, tôi phải về và tôi có toàn quyền hy vọng... đó là điều đã được người tù cải tạo thể hiện bằng nhiều phương cách.

Tháng 2 năm 1979, CSVN đem quân sang đánh chiếm Cambodia, khi ra lao động ngoài ven rừng, thấy máy bay trực thăng bay từ lãnh thổ VN băng qua biên giới sang phần đất Miên Lào, cả đoàn tù ngừng tay, bỏ cuốc, ngả nón nhìn lên trời. Trong đám, có người la lên “Anh em ơi máy bay tới rồi!” Đêm về bị đám “tự quản”, “ăng ten” đem ra kiểm điểm hạch hỏi, kết tội “còn hướng vọng đế quốc Mỹ, còn mong máy bay Mỹ đến giải cứu”.

Phải chăng “Hành trình H.O” khởi đi từ đó, từ một sự thiêng liêng huyền nhiệm mơ hồ. Hành trình H.O khởi đi từ sự sống khốn cùng và từ cái chết bi thương của những người tù cải tạo. Lê Quảng Lạc, bị cùm đến chết chỉ vì lá thư gửi về cho gia đình: “Xin bố mẹ yên tâm. Chúng con ra đi vì lý do chính trị thì chúng con cũng sẽ trở về bằng con đường chính trị”.
Lá thư viết trong trại tù Lam Sơn, Thanh Hóa năm 1979 đúng vào lúc từ bên Genève, quốc tế đang họp bàn về “con đường chính trị” mà Lê Quảng Lạc như được mặc khải từ một nguồn sáng siêu nhiên. Lá thư không về được với gia đình. Lá thư bị chặn lại và tác giả đã đổi sinh mạng của mình bằng lá thư viết về cho người vợ và bố mẹ của anh.

Hành trình H.O còn khởi đi từ tấm lòng nhân đạo vô bờ bến của những con người đang sống yên lành trên nước Mỹ. Tôi muốn nói đến những nhân vật cộng đồng trong đó những vị ân nhân của người, của đời mà không ai có thể quên được, đó là Bà Khúc Minh Thơ, Chủ Tịch Hội Gia Đình Tù Nhân Chính Trị Việt Nam, bên cạnh có các ông Nguyễn Ngọc Bích, Huỳnh Công Ánh, Nguyễn Hậu, Linh Quang Viên, Đào Văn Bình, Giao Chỉ... và nhiều cá nhân, tổ chức, hội đoàn khác đã đóng góp công sức, tài vật cho thành quả giải thoát những người tù cải tạo.

Một số trong các người vừa kể, sau khi đã hoàn thành mục tiêu xây đắp xong “con đường nhân đạo” cho “hành trình H.O” đã lui về với cuộc sống bình lặng thường ngày. Tôi vẫn băn khoăn nghĩ về những con người đã trải qua bao nhiêu chặng đường cam go, bỏ tiền của công sức, thì giờ trong nhiều năm để tiếp xúc, vận động các Dân biểu, Nghị sĩ trong Quốc Hội Hoa Kỳ hình thành “Hành trình H.O” hiện thực. Một tên tuổi mà tôi nghĩ, có lẽ số đông H.O không quên - Bà Khúc Minh Thơ, người mà nhiều anh em tù cải tạo khi còn ở Sài Gòn đã đọc, đã nghe nói đến.

“Món quà quý giá” được đám tù chúng tôi chuyền tay nhau là lá thư (đề ngày 14 tháng 6 năm 1989) của Dân Biểu Frank R. Wolf, gửi bà Khúc Minh Thơ thông báo việc Hạ Viện Hoa Kỳ, ngày 13 tháng 6 -1989 đã thông qua Nghị Quyết kêu gọi chính quyền Cộng sản VN thả hết tất cả tù cải tạo và xúc tiến giải quyết cho ra đi mọi tù nhân đã hay chưa được thả. Bản phocopy lá thư đó tôi mang theo sang Mỹ và còn giữ lại đến hôm nay. Trong nhiều năm qua, tôi chưa gặp một người nào trong số những nhân vật đã góp tấm lòng và bàn tay cứu độ ấy. Tôi cũng lại băn khoăn về một cử chỉ biết ơn đối họ, nhưng tôi chưa thấy ai làm. Tôi viết những dòng này để thấy lòng mình một chút thanh thản khi bày tỏ được đôi lời về những băn khoăn ấy.

3.
Lần đầu tiên khi hai con chữ H.O được phổ biến trên báo Công An ở Sài Gòn, trong một lần gặp gỡ nhiều bạn tù tại nhà anh Lê Đình Khôi ở đường Phan Thanh Giản (Điện Biên Phủ), Quận Mười, khi bàn đến hai chữ H.O, một anh trong đám nói: “đó là viết tắt của hai tiếng Humanitanian Organization”. Tôi, do đã tìm hiểu và suy luận trước nên “cải chính”: “không phải organization mà là operation. Không phải ‘tổ chức nhân đạo’ mà là ‘chiến dịch nhân đạo’.

Trong nhiều năm tôi vẫn cho rằng tôi suy nghĩ đúng, lập luận vững, nhưng mãi cho đến khi đọc được bài viết của Luật sư Lâm Lễ Trinh trên tờ Việt Báo San Jose (số 77 ngày 31-01-1997) thì tôi lại nghĩ rằng tôi cũng chỉ đoán mò. Bài báo của LS Lâm Lễ Trinh có đoạn: “Thế giới đã áp lực chính quyền Hà Nội chấm dứt những vụ ra đi “bán chính thức” bằng đường biển và chấp nhận một chương trình “xuất ngoại có trật tự, orderly departure hay ODP” cùng với kế hoạch cho ra đi “vì nhân đạo, humanitarian organization, HO”.
Theo tôi, những nhóm chữ LS Trinh để trong dấu ngoặc kép là chữ trích từ văn bản hay tài liệu mà người viết tham khảo, trích dẫn chứ không phải do người viết đặt ra nên tôi tin cụm từ “humanitarian organization, HO”.

Hai chương trình “xuất ngoại có trật tự, Orderly Departure” và cho ra đi “vì nhân đạo, Humanitarian Organization” đã được Liên Hiệp Quốc và đại diện 46 quốc gia đưa ra thảo luận cùng đại diện CHXHCN Việt Nam tại Geneve, đưa tới thỏa hiệp ký kết ngày 20-7-1979, mở đầu cho hai chương trình xuất cảnh ồ ạt mười năm sau đó.

Như vậy, căn nguyên hình thành hai chữ H.O bắt nguồn từ Liên Hiệp Quốc, từ Geneve, từ năm 1979, chứ không phải từ... trên trời rơi xuống, từ những suy luận, đoán mò của nhiều người.

Tuy nhiên, những ai suy luận H.O do viết tắt của hai chữ Humanitarian Operation có cơ sở  hơn, bởi nó có nghĩa tích cực, mạnh mẽ hơn và cuối cùng đã được giới chức thẩm quyền, tướng John W. Vessey  xác nhận đúng.  H.O, như vậy không phải là “Huyền Thoại H.O” như tựa đề một bài viết của tác giả Hạ Bá Chung do nhà báo Yên Mô giới thiệu trên mục Tạp Ghi của Việt Nam Thời Báo (số 2131, ngày 21-10-1997). Bài báo đó, trong phần mở đầu, người giới thiệu đồng ý với tác giả mà cho rằng: “Bài Tạp Ghi là của một HO viết về huyền thoại HO” là một bài viết đã tra cứu sâu rộng để biết rằng HO chỉ là tên gọi do sự tình cờ nhưng đã trở thành hữu danh một cách rất có lịch sử.....”. Điều này cần xem lại, như tôi đã nói ở trên.

Tôi xin nêu những dẫn chứng sau đây về sự nhất quán của con chữ HO trong Hành trình HO, nhưng trước hết xin được nói thêm về một nhóm chữ khác - re-education - tôi muốn được nói thêm, ông Yên Mô cho rằng tên gọi re-education “hoàn toàn có ý nghĩa hành chánh chứ không nhằm miệt thị”. Chúng ta, phần đông hiểu nghĩa của từ education là “giáo dục” nên khi nhìn thấy re-education thì liên tưởng ngay nghĩa của từ này là “giáo dục lại, dạy dỗ lại”. Thực ra re-education nghĩa đen là cải đổi, là sửa sang lại, là tập luyện để trở lại như cũ, theo ý muốn của mình. Người HO đã từng trải một thời gian dài “sửa sang, tập luyện lại để trở lại như cũ”, để sau khi ra trại vẫn là con người  cũ VNCH!!

Khi ở trại tù Quảng Ninh ngoài Bắc, một số anh em chúng tôi đã có bàn luận với nhau “tiếng Anh ‘cải tạo’ gọi là gì thì vài ba anh em, trong đó có anh Lâm Văn Hữu, gốc Cảnh Sát Quốc Tế (Inter-Pol) của VNCH đồng ý với nhau ‘cải tạo’ là re-education, vì nghĩa đen của từ này là... ‘cải tạo’. Cộng sản đã dùng thuật ngữ Cải Tạo để thay thế cho chữ tù, nhằm đánh lừa dư luận. Lúc mới tập trung vào trại, họ bảo “Các anh là Học Viên”, ai nói “tù” là xuyên tạc, phản động. Ít lâu sau họ nói “Các anh là Cải Tạo Viên”, hơn một năm sau có người thắc mắc, hỏi cán bộ thì họ xẳng giọng nói thẳng ra: “Học viên hay cải tạo viên gì cũng là tù cả”.
Trở lại bài báo “Huyền Thoại H.O” của ông Hạ Bá Chung, tác giả bài báo cho biết nhà văn Trà Lũ tỏ ra thắc mắc về nguồn gốc hai chữ H.O lắm nên đã viết trong “Lá thư Canada”: “Chẳng nhẽ mình phải hỏi VC việc này sao?”

Tác giả bài báo đặt câu hỏi “Vậy H.O. có phải là chữ viết tắt của Humanitarian Operation không?” Rồi tác giả bàn tiếp: “Cụm từ này tôi đã đọc nhiều lần trên các báo chí mấy năm nay rồi, và ngay cả vị giáo sư khả kính Lê Bá Kông viết trên Đặc san Đa Hiệu cũng cho là như vậy, vì ai cũng nghĩ là chuyện Mỹ can thiệp với VC để đưa các cựu sĩ quan Quân Lực VNCH sang định cư tại Hoa Kỳ là vấn đề mang tính nhân đạo”. Tác giả cho rằng nghĩ như vậy là “sỉ nhục”.

Tôi không bàn đến khía cạnh “tự ái dân tộc” mà tác giả bài báo nêu ra. Sự luận bàn như vậy chỉ có tính cách mua vui. Theo ông Hạ Bá Chung, “chữ H là humanitarian nghe hữu lý nhưng chữ O là Operation quá gượng ép, vì cùng là chương trình định cư mà di dân (immigrant) dùng chữ progam (Orderly Program) hay P.I.P (Public Interest Program), còn người tỵ nạn (refugee) hà tất phải đổi là Operation”.

Lý luận cách này của ông HBC là cách suy luận cảm tính. Tuy cùng là di dân, nhưng mỗi diện là một loại, đặt tên gọi khác nhau là một điều hợp lý. Diện đoàn tụ gia đình Orderly Departure Program, diện “đi theo” là Public Interest Parole (không phải program như ông HBC đã ghi), cho nên diện tù cải tạo là Humanitarian Operation, cũng như diện thuyền nhân hồi hương là ROVR.

Những năm đang ở tù ngoài Bắc, chúng tôi thường “mơ mộng” về một operation bằng viễn ảnh một cuộc chuyển dời từ trại tù đến “tập kết” tại một địa điểm nào đó ở một sân bay, hay một bãi biển, để mà tha hồ hít thở khí trời tự do. Mơ mộng đó không đến với người tù bằng những operation từ các trại giam mà bằng những “chiến dịch” nhân đạo Humantarian Operation như thực tế đã diễn ra.

Tác giả Hạ Bá Chung khẳng định “Vậy chữ H.O. không phải xuất phát từ phía Hoa Kỳ”, và theo ông “chỉ còn cách hỏi Sở Ngoại Vụ VC”. Ông không cho biết Sở Ngoại vụ VC trả lời thế nào. Tác giả lại đã nhờ một Kỹ sư Nông nghiệp học lớp phiên dịch mà ông là giảng viên, “liên lạc với tòa soạn báo Công An TPHCM đầy thẩm quyền, yêu cầu giải thích về các quy định của chương trình H.O. và chữ viết tắt của nó...”.

Tác giả viết tiếp “Vào cuối năm 1990, tuần báo Công An TPHCM đăng bài về chương trình H.O. và giải thích chữ viết tắt như sau” (??!!). Đoạn văn chấm dứt, bỏ lửng ở đó. Và một lần nữa, ông HBC lại không cho biết báo Công An giải thích hai chữ H.O. ra sao!! Theo ông HBC, “để đáp ứng yêu cầu của Mỹ, danh sách các cựu quân cán chính VNCH được thiết lập riêng để được ưu tiên phỏng vấn và ưu tiên có chuyến bay, nên Sở Ngoại Vụ VC lập danh sách bắt đầu bằng chữ H, rồi thông báo cho phái đoàn phỏng vấn Mỹ...”
Để được “ưu tiên phỏng vấn và ưu tiên có chuyến bay, nên Sở Ngoại Vụ VC lập danh sách bắt đầu bằng chữ H” nghiã là sao? Chữ H là biểu trưng cho ý nghĩa “Ưu Tiên”? Nếu biểu trưng cho ý nghĩa Ưu Tiên, sao không là chữ P (Priority)??

Theo tôi, lập luận này cũng chỉ là một sự suy đoán mà thôi. Tại sao danh sách tù cải tạo lại bắt đầu bằng chữ H mà không là chữ K, chữ X, chữ Y? Còn chữ O, tác giả bài báo đồng ý với ông Trà Lũ là khi làm danh sách “VC thường viết 01, 02... Vậy chữ O không có nghĩa gì hết. Đến danh sách H10 trở đi không còn chữ O nữa”. Quả là từ danh sách H10 trở đi không còn chữ O nữa, nhưng tất cả giấy tờ của phía VN từ các cơ quan đến báo chí luôn luôn ghi rõ diện tù cải tạo xuất cảnh là H.O.

Thông cáo của Sở Ngoại Vụ TPHCM phổ biến trên tờ SGGP ngày 1-12-1992 có đoạn ghi rõ: “Ta trao tiếp cho phía Mỹ các danh sách HO21 đến HO28 và sẽ trao toàn bộ danh sách HO còn lại trong vòng 3 tháng tới...”
Trong một văn bản mang ký hiệu (FVPPA: July, 1996), của phía Hoa Kỳ có tiêu đề như sau: [OVERVIEW OF FAMILY ELIGIBILITY IN THE PROCESSING OF THE FORMER POLITICAL PRISONERS BY THE HO SUBPROGRAM OF THE ORDERLY DEPARTURE PROGRAM (ODP)]
- When the Oderly Departue Program (ODP) began the “HO” subprogram of ODP to resettle former political prisoners and their family members...,
(Chữ HO trong câu này để trong dấu ngoặc kép).

Xin tạm dịch:
[“Văn Bản xem xét lại những người hội đủ tiêu chuẩn trong gia đình cựu tù nhân chính trị được ra đi theo chương trình phụ HO thuộc chương trình ra đi trong trật tự (ODP)]
Đoạn mở đầu viết:
- “Khi chương trình ra đi trong trật tự (ODP) bắt đầu chương trình phụ “HO” của ODP để tái định cư những cựu tù nhân chính trị và các thành viên trong gia đình của họ...,”
Như vậy con chữ HO đã được phía Hoa Kỳ xác nhận một cách nhất quán trong các văn bản và tài liệu.

Năm 1990 nhân dịp ra Hà Nội, tôi đi với một người bà con là Việt kiều ở Pháp đến trụ sở Công an ở phố Hàng Bài, tôi hỏi một nữ Trung úy CA về hồ sơ H.O của một người bạn (chết trong tù), người nữ công an này trả lời tôi với câu mở đầu “Chỉ có H, không có HO nào cả. Nói gia đình chị ấy làm tại địa phương”.

Hẳn là người nữ công an ấy cũng chỉ là một nhân viên thừa hành, thấy sao nói vậy, họ có biết gì về tính sâu sắc của chữ nghĩa như người trong cuộc hằng quan tâm. Hơn nữa người miền Bắc luôn luôn đọc chữ cái theo âm Việt. Chữ O là O chứ không đọc âm ô như người trong Nam, cũng vậy thường chúng ta đọc ô-đê-pê (ODP), nhưng người miền Bắc thì đọc o-dê-pê.

Tôi không nghĩ “HO chỉ là tên gọi do sự tình cờ” như ý kiến của ông Yên Mô. Đối với người cộng sản họ rất tủn mủn trong mọi lời nói, mọi việc làm, đôi khi dùng thủ đoạn vặt lộ liễu đến trẻ con. Trong thời kỳ diễn ra hòa đàm Paris, có lần Bộ trưởng Ngoại Giao Miền Bắc Nguyễn Duy Trinh gặp phái đoàn Mỹ do ông Harriman dẫn đầu. Ông Trinh bắt tay Hariman xong, liền thọc tay vào túi quần móc ra cái khăn mouchoir lau bàn tay rồi vứt cái khăn xuống đất để tỏ ý ra điều tay ông ta bị dơ vì bắt tay đế quốc. Báo chí quốc tế ngày đó đã nhìn Nguyễn Duy Trinh làm trò con nít, rẻ tiền.

Ở trại tù Quảng Ninh Tết Năm Đinh Tỵ 1977 phòng giam số 8 làm một số báo xuân, dĩ nhiên là báo chép tay, lấy tên là Giai Phẩm Xuân Đinh Tỵ, đã bị viên thiếu úy công an, quản giáo hạch hỏi điều tra tại sao lại lấy tên là “Giai Phẩm”. Cái tên này đã trở thành một thứ húy kỵ sau vụ Nhân Văn, Giai Phẩm. Rồi quay sang nhìn cái lọ cắm mấy bông hoa dại trên cái bàn, quản giáo lại hỏi “tại sao các anh hái loại hoa cứt lợn cắm vào đây”? Nhiều người không hiểu tại sao anh cán bộ quản giáo lại hỏi “tại sao”? Tại sao là tại sao? Người tù chỉ đơn giản ra khoảnh vườn hoang nhỏ sau phòng giam thấy hoa gì hái thứ đó vào cắm để biết hôm đó là ngày Tết. Nhưng người cộng sản lại nhớ mãi về hai mươi năm trước đảng vui mừng tuyên bố khi về tiếp thu Hà Nội “trăm hoa đua nở, nhà nhà đua tiếng”, mấy năm sau bị Nhân Văn, Giai Phẩm nói lại “trăm hoa đua nở, nhưng toàn là hoa cứt lợn”.

Trong những lời tuyên bố hay trong các văn bản của phía Việt Nam thảo luận với phía Hoa kỳ về việc cho xuất cảnh, họ luôn luôn nhắc tới, lặp đi lặp lại hai tiếng “nhân đạo”. Từ ngữ này do Liên Hiệp Quốc đưa ra trong cuộc họp tại Geneve với 46 quốc gia khác, có Việt Nam tham dự. Phía Việt Nam đã chộp lấy từ ngữ này để làm ra điều ta đây vì nhân đạo mà cho ra đi, chứ thực tâm đấy là cơ hội để họ tuồn hết những thứ “không xài được” ra khỏi nước. Tôi được một sĩ quan cấp tá Công An thời đó cho biết tình hình chung trong nội bộ tỏ ra thắc mắc, hoang mang khi thấy đảng làm cái việc “thả hổ về rừng”, thì chính Mai Chí Thọ đã nói với toàn thể cán bộ trong ngành công an rằng việc giải quyết cho hết đám tù cải tạo ra đi là để “làm sạch địa bàn”. Trong nội bộ riêng tư, nhân viên, cán bộ các ban sở, các ngành đều được giải thích theo lập luận ấy. Về mặt công khai, bộ máy tuyên truyền, báo, đài khi đăng tải chủ trương của nhà nước phải theo đúng từng câu, từng chữ.

Báo Tuổi Trẻ số 53 tháng 8 -1988 đăng thông báo của Phòng Quản Lý Người Nước Ngoài Và Xuất Cảnh, Nhập Cảnh do Phó trưởng phòng Đặng Chí Thành ký đã nhấn mạnh đến tính cách “nhân đạo” ấy như sau:
“... Những người được tha từ các trung tâm cải tạo cùng với thân nhân có thể được phép di cư ra nước ngoài nếu họ muốn... Đó là do tính nhân đạo, chứ không phải như một số dư luận hiện nay cho là nhà nước Việt Nam xua đuổi số ngụy quân, ngụy quyền hoặc không khả năng tạo điều kiện cho số này làm ăn sinh sống bình thường, nên khuyến khích ra đi v.v.”

Báo Sài Gòn Giải Phóng số ra ngày 14. 10. 1988 cũng loan một bản tin của Thông Tấn Xã VN, dưới tựa đề “Đồng Chí Trần Quang Cơ Gặp Giôn Vét-Xi Bàn Về Các Vấn Đề Nhân Đạo”. Đoạn văn như sau: “.... tại phái đoàn Mỹ ở LHQ, Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Trần Quang Cơ đã gặp ông Giôn Vét-xi, đặc phái viên tổng thống Mỹ về vấn đề người Mỹ mất tích trong chiến tranh (MIA) và các vấn đề nhân đạo khác để thảo luận các vấn đề nhân đạo mà hai bên cùng quan tâm như... vấn đề MIA, trẻ lai Mỹ, những nổ lực của Mỹ để giải quyết các vấn đề nhân đạo của Việt Nam như nguời tàn tật trong chiến tranh, trẻ lai và trẻ mồ côi tàn tật và vấn đề người trong các trại cải tạo”.

Chỉ một đoạn văn ngắn, bài báo lặp lại nhiều lần từ ngữ “nhân đạo”, với chủ ý nhấn mạnh chứ không phải là một sự tình cờ.

Trong một văn thư Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch gửi cho tướng John Vessey, đặc phái viên của tổng  thống Mỹ, ông Thạch cũng không quên hai tiếng “kinh điển” ấy: “Trước sau chúng tôi vẫn coi việc giải quyết các vấn đề nhân đạo cần được tách khỏi các vấn đề chính trị”.
Còn rất nhiều văn bản khác nữa hai tiếng “nhân đạo” được phía Việt Nam nhắc đi nhắc lại như một điệp khúc.

**

4. Tướng John Vessey với xác nhận con chữ
H.O: Humanritarian Operation

Sau hết, tôi được nhà thơ Thanh Thanh gửi cho lá thư của cựu Đại Tướng John Vessey gửi ông Nguyễn Xuân Huấn, Chủ tịch Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị tiểu bang Minnesota. Qua lá thư này, Tướng John Vessey đã khẳng định với chúng ta lý lịch con chữ H.O một cách minh bạch. Lá thư được cô Nguyễn T. Ngọc Châu phiên dịch sang Việt ngữ cùng với nguyên bản Anh ngữ như sau:

John W. Vessey, General USA (retired). June 10, 1997
To Mr. Nguyen Xuan Huan
President, Association of Former Political Detainees in Minnesota.
1030 University Avenue. 270, ST. Paul, MN 55104.

Dear Mr. Huan.
Because I am unable to attend your important meeting on Saturday, June 21, I ask that this letter be read on my behalf to your members and guests.
It is important to honor all those who served the cause of freedom in Vietnam and Indochina. It is also important to recognize and assist those who suffered under Communist rule for their prior service to the Republic of Vietnam. Political detainees under the Communist regime after 1975 had served their country and their people in the honorable and esteemed tradition of patriotism, putting service to country above self during a long and arduous war. The sacrifices of all who served and fought in the Vietnam war, Vietnamese, Americans, and other Allies, made a difference for the important human ideals of freedom and personal dignity. The world was changed through a collective effort. The spread of Communism in Asia was harted by the sacrifices in Vietnam, Laos, and Cambodia, and with the help of other nations of Southeast Asia. All who participated in that effort can be proud of their contributions.
When President Reagan calls me back from military retirement in 1987 to be his Presidential Emissary to Hanoi, one of the highest priority tasks he assigned me was to seek  the release of our former South Vietnamese comrades who had been detained in the so-called, "reeducation camps". I was authorized to assure the Hanoi government that the United States would accept and welcome those detainees and their families in this country.
Because, at the time of the original negotiations, there was no hope of any immediate political resolution between the two nations, all actions taken in furtherance of the agreements reached were termed "humannitarian operations". Consequently, the term H.O. has been used within the Vietnamese-American community to refer to former political detainees who are now residents in the United States.
To me, the term H.O. is a badge of courage, service and sacrifice, and all those who fall within that context of the term are among the true heroes of our time.
My very best wishes to all attending your event.

Sincerely yours.
John W. Vessey.    

Bản dịch:
“Vinh danh những người đã phụng sự cho chính nghĩa tự do ở Việt Nam và Đông Dương, là một điều quan trọng. Việc công nhận và trợ giúp những người đã bị chế độ cộng sản ngược đãi vì đã phục vụ cho chế độ tự do tại các quốc gia đó, lại càng quan trọng hơn. Những tù nhân chính trị dưới chế độ cộng sản sau năm 1975, là những người đã từng phục vụ quê hương và đồng bào với truyền thống yêu nước cao cả và đáng kính, đã vì nước quên mình trong suốt cuộc chiến tranh lâu dài và ác liệt. Lòng hy sinh của tất cả những ai đã từng phục vụ và chiến đấu trong chiến tranh Việt Nam, người Việt, người Mỹ, và những đồng minh khác, đã đem lại một ý nghĩa đặc biệt hơn cho lý tưởng của con người về tự do và nhân phẩm. Thế giới đã thay đổi nhờ một nỗ lực tập thể. Sự bành trướng của cộng sản ở Á Châu đã bị ngăn chận bởi những sự hy sinh ở Việt Nam, ở Lào, và Cam Bốt, cùng với sự hỗ trợ của các nước Đông Nam Á. Tất cả những ai đã tham gia vào nỗ lực đó, có thể tự hào về những đóng góp của mình”.
“Năm 1987, khi đang hồi hưu, tôi được Tổng Thống Reagan cử làm Đặc Phái Viên đi Hà Nội thương thuyết. Một trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu mà Tổng Thống giao phó cho tôi, là phải tìm cách giải thoát những cựu chiến hữu Việt Nam đang bị giam giữ trong những cái trại gọi là “trại cải tạo”. Tôi được quyền bảo đảm với chánh phủ Hà Nội rằng, Hoa Kỳ sẵn sàng chấp nhận và đón tiếp những người tù cải tạo cùng với gia đình họ sang Hoa Kỳ.
Trong những cuộc thương thuyết sơ khởi, vì chúng tôi không hy vọng hai bên sẽ có ngay những giải pháp chính trị, cho nên tất cả những hành động mở đường cho những thỏa ước tương lai đều được mang danh “Humanitarian Operation” (Chiến Dịch Nhân Đạo), gọi tắt là H.O. Do đó, danh từ H.O. được Cộng Đồng Việt Mỹ sử dụng để nói về những cựu tù nhân chính trị Việt Nam đang sống trên đất Hoa Kỳ”.
“Riêng đối với tôi, danh từ H.O. là biểu tượng của lòng dũng cảm, tinh thần phục vụ, và lòng hy sinh của người H.O. Tất cả những ai thuộc diện H.O. đều là những anh hùng thật sự trong thời đại chúng ta”    

(Bản hiệu chính tháng 4/2014)