Kể Chuyện Ngày Xưa - Nguyễn Thị Nho
Chuyện ngày xưa bây giờ mới kể
Ký ức vui/buồn đâu dễ mờ phai…
Mùa khai trường niên khóa 1966-1967, tôi vào lớp Đệ
Thất trường Trung Học Nguyễn Hoàng - một trong những ngôi trường danh tiếng vào
bậc nhất của miền Nam Việt Nam thời
bấy giờ.
Phòng học chính của lớp Đệ Thất 2 năm đó nằm trong
dãy nhà ngang gần phía căn cứ Mỹ. Giáo sư hướng dẫn là thầy Nguyễn Đức Đô dạy
văn học. Phụ trách môn tiếng Anh là thầy
Gary và cô Quỳnh. Có một kỷ niệm tức cười mà chẳng vui chút nào trong giờ Anh
văn làm tôi nhớ mãi. Số là lớp tôi có hai nữ sinh nhổ giò cao lớn vượt trội: đó
là Hiệp và Hậu. Trong khi Hậu đã biết làm dáng điệu đàng thì Hiệp lại gà tồ hết
biết, vì thế giữa hai bạn nầy nẩy sinh nhiều cái bất đồng. Một lần nọ, trong giờ
thầy Gary đang luyện đọc cho học sinh thì không biết vì chuyện gì - hoặc giả
đôi khi chỉ là ánh mắt lườm, nguýt - mà sự xích mích giữa hai cô nàng bùng nổ.
Nỗi hậm hực ngấm ngầm lâu ngày nay bùng phát như
cơn giông, hai cô đứng dậy sửng cồ nắm tay thủ thế chuẩn bị kéo đầu nhau - mà
thế mạnh chắc chắn sẽ rơi vào tay Hiệp. Nguyên nhân là Hiệp tóc cột gọn gàng
trong khi Hậu thả tóc thề tha thướt. Thấy thế thầy Gary ngừng đọc, mắt mở lớn
hoảng hốt trong khi miệng liên tục la lớn: Miss Hêp. Miss Hao. Stop! Stop! Vừa
la thầy vừa vội vàng xông vào hai con gà chọi để tách chúng ra làm cả lớp nhốn
nháo, mấy đứa con trai to con đứng dậy trong tư thế chuẩn bị tiếp sức cùng thầy. May thay lúc đó thầy tổng giám thị bất
chợt ngang qua lớp, thế là học trò lật đật ngồi xuống im phăng phắc làm hai cô
nàng đang trong tư thế sống mái cũng xẹp ngay bầu máu nóng. Không biết giờ nầy Hiệp và Hậu còn nhớ không?
Riêng tôi, tôi không thể quên được cái kỷ niệm buồn cười ấy.
Lần theo trí nhớ, tôi xin điểm danh tên một số bạn
cùng lớp ngày ấy. Phía nữ có Nguyễn Thị Hoàng Lan, Hoàng Thị Liệu, Hồ Thị Liễu,
Hà Thị Bích Hường, Lê Thị Khương, Tôn Nữ Ất Mùi, Lê Thị Mân, Phan Thị Hoàng Mộng,
Trương Thị Hương, Phan Thị Nhơn, Lê Thị Nhỏ, Phan Thị Tố Hằng, Nguyễn Thị Anh
Ngọc, Lê Thị Thuý Nga, Lê Doãn Như Hùng, Nguyễn Thị Hiệp, Trần Thị Hóa, Nguyễn
Thị Hậu, Đỗ Thị Mỹ Nhân, Nguyễn Thị Nho, …
Bên nam gồm: Nguyễn Đăng Sanh, Thái Hoàng Nguyên,
Lê Thiện Ngữ, Hoàng Nguyên, Nguyễn Văn Nguyên, Phùng Sáng, Nguyễn Sang, Nguyễn
Lam Sơn, Nguyễn Tập, Lê Thanh Minh, Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Nguỵ Lục, Nguyễn
Cung Nghi, Lê Phúc, Nguyễn Văn Phục, Lê
Thanh Phỉ, Nguyễn Thanh Liên,…
Và còn các bạn khác mà lớp bụi thời gian đã che mờ
nên trí nhớ nhỏ nhoi của tôi chưa gợi lại hết. Mà không sao, đã có các bạn khác
nhớ thay tôi, phải không?
Những ngày tháng ấy, con đường đất làng Thạch Hãn
đã in dấu chân Tố Hằng và Anh Ngọc dẫn đến nhà tôi. Ngọc thường mặc áo đầm xếp
còn Hằng ẻo lả như mảnh trăng non hay e lệ dấu nụ cười sau nón lá. Mỗi sáng, mỗi
chiều dù mưa hay nắng tôi vẫn đợi Anh Ngọc và Tố Hằng đến nhà rồi cả ba mới
cùng sóng bước đến trường. Tuổi học trò thích nhất là được nghỉ hai giờ sau.
Khi thì Bích Hường dẫn cả bọn về nhà ở thôn Đệ Tứ. Nhà Hường khá thơ mộng với
giàn hoa tigon làm chúng tôi cứ lơ mơ với lời thơ của TTKH. Khi thì theo Hoàng
Mộng về nhà bạn ấy ở đường Trần Hưng Đạo chơi hoặc ghé nhà Anh Ngọc hái khế,
hái ổi; về nhà Nho làm bánh bột lọc hay sang nhà Hiệp ở đường Hồ Đắc Hanh để lục
lọi tủ sách quý của gia đình bạn ấy. Đôi lúc cả nhóm qua đò trên sông Thạch Hãn
để đến nhà Nhơn ở Nhan Biều. Vườn nhà Nhơn có hai hàng cau thẳng tắp, hoa cau
toả hương thơm ngát và rụng trắng cả một góc vườn. Chúng tôi ra vườn trèo cây
hái ổi chắm muối ớt, ăn cay đến xé họng, vừa ăn vừa thít tha ngon ơi là ngon.
Lát sau cả bọn lại cùng nhau thả bộ dọc đường làng để về chùa Sư Nữ. Từ nơi ấy,
chúng tôi thả tầm mắt về thị xã bên kia sông để ngắm chùa Tỉnh Hội, ngắm Toà
Hành Chánh và con đường Gia Long đầy bóng cây râm mát, thú vị biết bao!
Tôi nhớ có lần đò cập bến, thầy đàn cá nhỏ tung
tăng trong làn nước trong vắt, cả bọn thích quá nên xắn quần, túm áo và túm cả…
váy để lội theo bờ cát bắt cá. Hồi đó chúng tôi chưa phân biệt được đâu là cá
nhỏ, đâu là nòng nọc nên Anh Ngọc hốt một mớ nòng nọc trong vui thích, nhỏ
tuyên bố sẽ đem về nuôi. Thấy thế bác lái đò tủm tỉm cười bảo đó không phải là
cá con mà là nòng nọc, vài bữa nó đứt đuôi sẽ thành nhái nhảy lom xom. Nghe
qua, Anh Ngọc mặt mày xanh lét, nhỏ hoảng hồn vứt hết số “cá” vừa bắt được,
chân nhảy tưng tưng khiến nước văng tung toé làm cả bọn ướt như chuột lột.
Thuở ấy chúng tôi thích đi chơi lắm, cứ được nghỉ
học giờ nào là kéo nhau đi “rùng rùng” từ cầu Ga, xóm Chuối đến Long Hưng, Hạnh
Hoa, Trí Bưu,… Đứa nào đứa nấy mặt mày đỏ
bừng, mồ hôi mồ kê nhễ nhại vì phơi nắng mà không biết mệt. Một lần cả bọn đề
nghị về Lam Thuỷ - làng của Nho - cho biết. Thế là cùng nhau leo lên xe đò về đến
Ngô Xá. Xe đỗ bến rồi mà Nho ngần ngại, không dám dẫn các bạn về làng vì lúc đó
quê nhà của Nho là vùng mất an ninh. Xớ rớ một hồi nhìn sông ngắm chợ rồi cả bọn
lại leo lên xe trở về thị xã. Một lần khác được nghỉ học bất ngờ, ba đứa Hiệp,
Hằng, Nho rủ nhau đi Đông Hà cho biết. Vậy là a lê hấp, ba đứa ôm cặp leo lên
xe đò. Đến nơi chẳng quen biết ai nên loanh quanh phố nhỏ một lúc rồi vào chợ
mua mấy lon sim chín, vừa ăn vừa nhìn thuyền bè tấp nập trên sông Hiếu. Xong, lại
lên xe về. Có lần chúng tôi còn “bò” ra đến Gio Linh nữa đấy. Chẳng để làm gì,
chỉ là đi cho biết. Đúng là học trò con nít thời xưa!
Ngày tháng qua đi, những con chim non ngày một lớn
lên nên cũng chững chạc hơn khi qua một mùa hè. Trừ những ngày nghỉ hè, dù mưa
dầm gió bấc hay nắng cháy da người chúng tôi vẫn theo nhau đến lớp, ngồi dưới
mái trường thân yêu với sự dạy dỗ tận tình của thầy cô giáo. Mấy năm sau lớp
tôi lại có thêm những khuôn mặt mới: đó là lớp trưởng Nguyễn Xuân Điệp, Nguyễn
Ngọc Luật, Trần Thị Mỹ Hoá, Văn Thị Soạn, Cao Thị Liễu, Nguyễn Thị Thuyết, Ngọc
Lan, Lương Đăng, Kim Cúc, Kim Thu, Lê Hoa, Trường, Quy, Thịnh, Xuân Mận, An,
Thành, Đạt, Ty, Chim, Gái, Anh, Tùng, Kính, Du, v.v… Nhà Thuyết ở đường Trần
Hưng Đạo, đối diện nhà sách Lương Giang, bọn con gái chúng tôi cũng thường đến
nhà Thuyết tập làm bánh in rất vui.
Những người bạn học trò của tôi ơi! Làm sao tôi có
thể nhớ hết được tên tất cả bạn học trong suốt 7 năm dài ở Nguyễn Hoàng? Có bạn
tôi được gặp lại vào lần hội ngộ trường xưa năm 2010, chúng tôi vẫn nhận ra
nhau dù thời gian đã mấy chục năm ròng nhưng có bạn đã đi vào lòng đất lạnh,
vĩnh viễn không bao giờ gặp được giữa chốn nhân gian nầy. Tang điền thương hải
mấy mươi năm rồi nhưng làm sao tôi quên được những ngày tháng tươi đẹp ấy? Làm
sao quên được giai điệu bài hát “Ngựa phi đường xa” từ chiếc loa của Ty Thanh
Niên như bao trùm cả phố thị, lời ca vướng vít theo bước chân rộn ràng của tuổi
hoa nên trong những sáng mai hồng đến lớp?
Chiến tranh ngày càng lan rộng, tiếng súng vọng về
ngày càng rõ hơn rồi một đêm tiếng đạn pháo đã nổ ầm trong lòng thị xã khiến
người dân phố thị cũng chẳng còn yên giấc ngủ. Ngày ngày trên đường đi học,
chúng tôi thấy xe chở lính Mỹ nhiều hơn, dù họ chẳng làm gì mà đám con gái vẫn
thấy sợ, cứ thấy lính Mỹ là chúng tôi tìm đường tránh xa. Vào lớp, thầy giáo dặn:
lính Mỹ ngồi trên xe, thấy các em họ thích quăng đồ hộp xuống. Các em hãy nhớ
là đừng cúi lượm. Nhục lắm!
Những sáng, những chiều máy bay đủ loại, đủ tên: từ
trực thăng đến phản lực gầm rú vang rền trên bầu trời quê tôi. Lớp học gần sân
bay nên cũng ảnh hưởng, lắm lúc tiếng gầm rú của phản lực cơ át mất lời giảng của
thầy. Không khí chiến tranh bao trùm, đôi lúc trên đường đi về tôi lại bắt gặp
những chiếc xe nhà binh chở những chiếc quan tài phủ cờ có lính bồng súng hai
bên. Trong sân trường thỉnh thoảng lại xuất hiện vài vành khăn tang mới trên những
mái tóc xanh. Vào lớp, thầy bảo đóng cửa lại rồi dạy chúng tôi hát những bài Dậy
mà đi, Tự nguyện. Ánh mắt thầy buồn bả khi nói với chúng tôi: "Quê hương
mình đã vào cuộc chiến nồi da xáo thịt thật rồi các em ạ". Cùng năm đó thầy
Trác dạy môn Công dân của lớp tôi bỗng dưng biến mất, tiệm xe đạp Việt Cường
nơi thầy cư ngụ bị niêm phong.
Rồi tết Mậu Thân (1968) đến. Để chuẩn bị ăn tết,
ngoài bánh mứt rượu thịt, người dân còn lo dự trữ gạo, mắm muối và chất đốt. Tiếng
pháo giao thừa năm đó đã hoà lẫn cùng tiếng súng, tiếng pháo gầm thét làm người
người hoảng loạn, bỏ cả bàn thờ còn lung linh ánh nến để tìm nơi trú ẩn. Sáng sớm
ngày đầu một năm, từng đoàn bộ đội trên đường rút quân lạc hướng chạy vào xóm
Thạch Hãn. Chao ôi! Ngoài cây súng và chiếc mũ trên đầu, khuôn mặt họ cũng “non
choẹt” như lũ bạn học chúng tôi. Với một giọng Bắc họ hỏi lối nào ra đường Trần
Hưng Đạo...
Tiếp đến là trận đánh Đường 9 - Nam Lào. Những chiếc
xe nhà binh chở đầy quân lính ra chiến trường rồi lại chở quan tài về thị xã.
Những người thân của tôi; những nam sinh của trường Nguyễn Hoàng cũng có mặt
trong đoàn quân ra trận đó, dù ở phía bên nầy hay bên kia. Họ đã đi và không trở
về, để lại những vành khăn sô và dòng lệ đau đớn cho người thân. Đường phố nhuốm
màu tang tóc. Khăn tang trắng cả bầu trời Quảng Trị trong chiến dịch Hạ Lào năm
đó.
"Ôi quê hương! Khói lửa đến bao giờ? Đến bao
giờ? Hỏi còn bao lâu? Còn bao lâu nữa…" lời ca khắc khoải ấy cũng là nỗi
lòng người dân Việt. Chúng tôi mơ hòa bình! Hòa bình cùng lời nguyện cầu râm
ran từ các giáo đường, chùa chiền ra khắp đường quê, phố thị. Mẹ ngồi nguyện cầu
hằng bao đêm/Lời kinh vọng xa thật êm đềm/Mẹ cầu cho con/Vượt qua ngày tròn…
Năm đó tôi lên lớp Đệ Nhị (đã đổi lại là
lớp 11). Con trai thì nơm nớp lo sợ rớt tú tài…anh đi Trung sĩ; con gái
thì lo sợ phải theo chồng bỏ cuộc chơi rồi trở thành góa phụ lúc nào không hay.
Và rồi: Mùa hè đỏ lửa đã đến còn vượt xa nỗi lo sợ của chúng tôi. Kỳ thi đệ nhị
lục cá nguyệt chưa tới mà chúng tôi đã phải bỏ trường, bỏ lớp, bỏ cả nhà cửa
trong thành phố nhỏ thân yêu để tìm đất sống. Bởi thế đừng trách sao năm đó bạn
bè liên lớp 11 chúng tôi trúng tuyển kỳ thi tú tài 1 rất ít. Có ai đó đã nói rằng
người ta phải đánh rớt nhiều sĩ tử để họ thành “chiến sĩ”, vì lò lửa chiến
tranh đang cần nguồn cung cấp. Cũng có thể như thế nhưng có một điều không thể
chối cãi là trong mùa hè đó, dù đã an toàn rời Quảng Trị nhưng chúng tôi chẳng
còn tâm trí đâu mà học với hành. Ai đã từng trải qua những ngày tháng kinh
hoàng đó chắc chẳng thể nào quên - như tôi vậy.
Tôi còn nhớ đó là ngày giỗ đầu của ba tôi. Khi thấy
tình hình bất ổn, mạ tôi đã thuê xe đưa gia đình vào Huế trong khi trên bàn thờ
ba tôi vẫn “hương chong đèn rạng”. Được mấy ngày, đài phát thanh loan tin Quảng
Trị đã bình thường trở lại, trường học sẽ tiếp tục mở cửa vào thứ hai tới… Ông
tỉnh trưởng kêu gọi dân chúng trở về. Những lời ấy làm nức lòng người biết bao!
Tôi và chị An Lành, hai đứa con gái lớn trong nhà liền xin phép mạ trở về trước
dò xem sự tình thế nào.
Mới xa nhà có mấy bữa mà nhớ ơi là nhớ! Vừa xuống
xe là hai đứa chạy như bay vào xóm Mít, Thạch Hãn. Vừa thấy mái nhà xa xa chị
em tôi mừng đến chảy nước mắt với ý nghĩ “nhà mình đây rồi”. Nhưng cái không
khí lặng như tờ chung quanh làm chúng tôi e dè. Hàng sầu đông vẫn đong đưa
trong gió, cụm hoa mười giờ vẫn trổ bông thắm cả khoảng sân nhỏ và mấy chú bướm
đủ màu sắc vẫn lượn lờ hút mật trên mấy đoá mẫu đơn, thược dược. Chị em tôi nín
thở đẩy cửa bước vào nhà, khi bỏ đi mạ đã không khoá cửa. Mạ nói chỉ khép hờ,
khoá làm chi để kẻ gian phá hư cửa. Bàn thờ ba tôi vẫn nguyên vẹn nhưng những
món kỷ vật của ba có giá trị thờ bên khung hình không còn nữa. Hai chị em thắp
nhang trước di ảnh ba khấn vái, cầu nguyện chóng bình yên để gia đình trở về.
Khấn xong, chúng tôi đảo quanh nhà một vòng, bàn ghế vật dụng cồng kềnh vẫn
nguyên vị nhưng khi vào buồng trong thì dãy nồi đồng và lu chén bát kiểu (loại
sành tốt) còn sót lại qua mấy cuộc chiến tranh tàn phá đã không cánh mà bay.
Hai chị em ra vườn, mấy tàu lá chuối vẫn phất
phơ bên luỹ tre già kẽo kẹt theo tiếng
gió. Nhìn qua nhà chị Diệp, nhà anh Hoá, anh Viễn, anh Sanh,… tất cả đều vắng
ngắt, đìu hiu… Tự dưng thấy ớn lạnh toàn thân. Bỗng có tiếng đại bác xé gió rồi
tiếng nổ rất gần, chị An Lành cầm tay tôi nói: Chị em mình qua bên kia đường
xem có ai về không chứ ở đây lỡ có bề gì chắc không ai biết. Thế là hai chị em
vội rời nhà sau khi thắp thêm nén nhang lên bàn thờ. Ra đến đầu ngõ mà chúng
tôi còn ngoái nhìn lại ngôi nhà thân yêu lần nữa và cũng không thể ngờ rằng đó
là lần nhìn cuối!
Đến nhà chị Chắt bên kia đường cách nhà tôi chừng
năm mươi mét, chúng tôi thấy có nhiều bà con đang ở đó, cả chị Hiển - vợ anh Sanh
- cũng đang bế con nhỏ ngồi chờ chồng. Chị nói anh Sanh sẽ lái xe Jeep về đưa
chị em mình vào Huế ngay bây giờ. Tiếng súng nổ rền gần hơn, bà con nhìn nhau
lo lắng. Bỗng một tiếng nổ ầm đinh tai nhức óc làm mọi người không hẹn mà cùng
hai tay ôm đầu nằm mọp xuống đất. Khi ngẫng đầu lên thì thấy khói đen cuồn cuộn
bốc lên từ phía nhà tôi cùng mùi khét. Thì ra quả pháo ấy đã rơi trúng nhà chị
Diệp - căn nhà chung sân với nhà tôi. Nếu chị em tôi chậm chân một chút thì chắc
đã tan xác trên sân nhà cũ của mình rồi.
Trong hoảng hốt, mọi người bảo nhau “Đi thôi!”.
“Trở lại Huế thôi”. Thế là mỗi người chỉ một xách nhỏ trên tay cùng nhau băng
qua đường làng Thạch Hãn. Khi ra đến đường Hồ Đắc Hanh, tôi hay tin bạn Hoàng
Thị Mót - bạn học cùng liên lớp với tôi vừa bị đạn pháo cướp đi mạng sống khi
tuổi xuân còn phơi phới. Thế là vừa chạy, tôi vừa quẹt nước mắt trong tiếng nấc
nghẹn: “Mót ơi!” và khuôn mặt rạng rỡ tươi cười của bạn ấy cứ như lẩn quẩn ở
trước mặt tôi. Theo dòng người nhốn nháo chen nhau chạy bộ hướng về Quốc Lộ I,
chị em tôi nắm chặt tay nhau kẻo sợ lạc. Mà quả thế thật, đến ngã ba Long Hưng
thì chị em tôi đã lạc mất nhóm bà con cùng chạy khi rời Thạch Hãn.
Cầu Dài! Thật ra chiều dài của cây cầu nầy chẳng
là bao nhưng với tôi nó đúng là cầu dài. Để vượt qua cây cầu đó là cả một vấn đề
sinh tử trong cái ngày khủng khiếp ấy. Và con đường sau nầy được mệnh danh là Đại
lộ Kinh Hoàng, đúng là kinh hoàng dù nó chẳng hề là “đại lộ”.
Trên chặng đường sinh tử ấy, hai chị em tôi cứ nắm
chặt tay nhau cắm đầu chạy trong tiếng thở hổn hển mà trong đầu như cứ ong ong
những lời trong bài ca “Hát trên những xác người” của Trịnh Công Sơn. Tôi nghĩ
thầm “Hát ư?”, chỉ còn súng đạn “hát” thôi, còn người thì đạp trên những xác
người chứ hát chi nổi. Một điều oái oăm là dân chúng từ Quảng Trị chen nhau chạy
vào trong khi từ phía Mỹ Chánh xe chở đầy lính đi ra bảo dân về ngay Quảng Trị.
Vì thế nên dân chúng nhốn nháo, người chạy tới, kẻ chạy lui thật là hỗn loạn.
Đoàn người chạy loạn đủ mọi tầng lớp, già trẻ. Trên con đường mấp mô đầy những ụ
đất cài mìn, tiếng nổ liên tục vang lên khi xe hoặc người vô tình dẫm phải. Xác
xe, xác người nằm ngỗn ngang cùng túi xách, giày dép vương máu tươi tanh tưởi.
Trong mấy hàng dương liễu bên đường ở rú cát xa xa thấp thoáng có bóng người và
tiếng hô xung phong. Thế là lính từ trên xe nhảy xuống lên đạn lắc cắc, dàn trận
sẵn sàng giáp chiến. Trong mùi thuốc súng cay nồng, tiếng con nít khóc la om
sòm, tiếng lợn kêu eng éc lẫn cùng tiếng than khóc rền rỉ mất người thân cứ trộn
vào nhau làm thành một hợp âm chiến tranh không nơi nào có được. Trước mặt tôi,
một người đàn ông vừa đạp xe vút qua bỗng vèo một tiếng, chiếc đầu của ông ta vụt
bay khỏi cổ trong khi chiếc xe vẫn tiếp tục chạy thêm một quãng mới đổ nhào.
Nhìn cảnh tượng kinh hãi ấy, hai thiếu niên đang gánh một ông già trong chiếc
thúng trên đường bỗng khuỵu xuống, họ run rẩy đến không thể nào gánh tiếp được.
Một thoáng quyết định, họ nhìn nhau rồi bỏ chiếc thúng lại bên đường, họ quỳ xuống vừa khóc vừa lạy ông cụ rồi
loạng choạng bỏ chạy. Đến một quãng, tôi thấy chị Miên - một người quen cùng
làng đang vừa khóc vừa lột hai chiếc nhẫn vàng trên ngón tay nhét vào túi chiếc
áo đứa con đã chết của chị. Thì ra chị gánh con chạy nhưng mảnh pháo đã cướp đi
mạng sống đứa bé, không biết làm gì hơn chị đành lấy hết gia tài nhỏ bé của
mình để vào túi áo con với suy nghĩ đó là sự trả ơn cho người nào chôn xác con
chị. Ôi! Giữa vòng vây lửa đạn ấy biết bao là cảnh thương tâm mà tôi không thể
nào ghi hết được.
Hoảng sợ! Mệt! Đói! Khát… Đó là ngày dài nhất
trong đời tôi. Chạy mỏi chân quá, chị em tôi bỏ dép để chạy cho nhanh hơn. Đôi
chân trần rướm máu, bỏng rát. Tôi lả đi nhưng chân cứ chạy, bàn tay hai chị em
cứ níu chặt lấy nhau. Giữa ranh giới của sự sống và cái chết, con người bỗng có
những sức mạnh siêu nhiên không lý giải được. Thế rồi chị em tôi cũng đến được
Mỹ Chánh. Từng chiếc xe tải cao ngật nghệu đang đón chờ. Chúng tôi được đẩy lên
và xe lăn bánh trực chỉ thành phố Huế, để lại sau lưng đoạn đường chết chóc,
hãi hùng mà nhiều bà con khác chưa vượt qua được.
Tiếp theo là chuỗi ngày sống tạm bợ trong các trại
tạm cư ở vùng biển Non Nước - Đà Nẵng. Những ngày ấy tôi vẫn theo trường theo lớp
trong thiếu thốn mọi bề. Thời gian rỗi tôi còn phụ các Soeur dạy chữ cho các em
tiểu học trong trại tạm cư và đón xe đò qua Đà Nẵng học thêm để lấy các chứng
chỉ nghề văn phòng.
Thời gian sau, mạ tôi mua nhà ở Đà Nẵng - bên cạnh
nhà ông bác họ. Dọn về nhà mới khang trang, không còn thiếu thốn tiện nghi như
thời ở trại tạm cư nhưng sao chị em tôi chả vui tí nào. Hàng xóm cũng lắm chàng
lân la đến làm quen, chuyện trò nhưng cứ ông nói gà bà nói vịt vì cách phát âm
khác nhau khiến các em tôi chán ngán và lo ngại, chúng sợ năm học tới khó mà hội
nhập được với thầy cô bạn bè nơi đây. Bởi thế khi nghe tin Quảng Trị hổi cư thì
cả mấy chị em nhất loạt xin mạ về Quảng Trị, thế là gia đình tôi theo bà con
trong chuyến xe hồi hương đầy phấn chấn dù nơi chốn trở về chẳng có dòng sông
xanh, chẳng có hàng cây cao bóng mát mà chỉ là dãy nhà tôn lụp xụp giữa bãi cát
trắng chỏng chơ nắng cháy da người. Thế
nhưng tình thân thì cứ mát rười rượi như gió mùa thu thổi tà áo dài trắng của
các em tôi ngày tựu trường năm học mới.
Nhưng chẳng bao lâu thời cuộc lại đổi thay. Niềm
vui thống nhất đất nước vỡ oà làm nao nức trái tim tuổi trẻ. Tôi sung sướng
mong được gặp lại bà con bấy lâu biền biệt; tôi vui mừng vì không còn lo lắng
chiến tranh sẽ cướp đi sinh mạng và tài sản của bao người; tôi hạnh phúc hát
câu hồi hương trên chuyến đò đưa gia đình về làng quê cũ. Trong niềm vui ngập
ngàn ấy, mẹ con tôi vội vàng trở về chốn quê xưa Lam Thuỷ. Lần đầu sau chục năm
xa ngái, được nhìn lại khu vườn, bến nước, dòng sông chị em tôi đã vui mừng đến
bật khóc. Ấy mới biết mấy chữ nơi chôn nhau cắt rốn ý nghĩa đến mức nào? Nhưng
rồi một số đầu óc kém hiểu biết, những cái nhìn thiển cận đã một thời làm gia
đình tôi điêu đứng đến nổi em gái tôi mượn tựa đề một truyện dịch để nói thay
những đau khổ mà chúng tôi phải gánh chịu trong khoảng thời gian ấy: Lưu đày
nơi quê nhà.
Những ngày đầu cùng bà con bắt tay vào xây dựng
quê hương mới vô cùng gian khổ. Từ một học sinh yếu đuối phải ra sức lao động
chân tay với những người nông dân chính hiệu là một trường học không dễ. Từ nhỏ
tôi đã sợ trâu bò, nhìn đôi sừng nhọn hoắt của chúng tôi cứ nghĩ không biết
chúng sẽ móc vào bụng mình lúc nào. Tôi còn sợ rắn và sợ đỉa ác chiến. Thế mà
tôi phải chăn trâu, cắt cỏ và lội ruộng. Những lần theo lưng đàn trâu, tôi cứ
năn nỉ “Trâu ơi! Thương tau với, đừng húc tau nghe, tội nghiệp”. Hình như trâu
cũng hiểu người nên chưa bao giờ nó “gây gỗ” với tôi, chỉ cái tội là lâu lâu nó
lại bơi qua sông không chịu về hay lồng lên chạy đi đánh nhau dẫm nát ruộng lúa
làm tôi vừa bị “bêu danh” vừa bị phạt trừ công điểm. Còn cắt cỏ thì tôi sợ nhất
là rắn, mỗi lần chuẩn bị cắt, tôi đều cầm cây đập vào đám cỏ miệng la: “Bớ rắn
rít, có núp trong đó thì bò đi chỗ khác nghe”. Nhưng bọn rắn chẳng chịu nghe lời,
lắm lúc tôi cắt xong một nắm cỏ là kéo ra theo một con rắn lục. Thế là tôi vừa
la vừa quăng cả liềm cả cỏ mà chạy. Còn đỉa thì khỏi nói, nhưng có điều bọn đỉa
rất lịch sự nên khi chúng cắn ít khi tôi phát hiện ra. Mãi làm việc, tôi không
chú ý gì cho đến khi rời ruộng mới thấy chúng no tròn đeo lủng lẳng quanh bắp
chân. Vậy là tôi bò ra cà chân vào đám cỏ bên bờ ruộng cho chúng rớt ra. Lòng
kinh tởm vô cùng nhưng lại nhủ thầm: “Mấy lâu ni mi đói, chừ tau hiến máu nuôi
mi hí”. Nhưng sợ nhất là những đêm đi trực máy nước bên bờ sông. Từng đám đom
đóm to bằng cái nồi cứ lượn qua lượn lại khiến mấy đứa con gái ớn lạnh, không
thể chợp mắt. Vậy là một anh lớn tuổi trong nhóm bày chuyện tập hát để đỡ sợ.
Dĩ nhiên là những bài hát cách mạng. Anh ấy bảo: Hát to lên, hát càng to càng bớt
sợ. Thế là cả tổ - ba đứa nhắm mắt mà gào “Bó đuốc sống chiếu sáng ngời soi đường
cho đội em thiếu niên…”; hay “Ta là con của núi non Trường Sơn, theo Đảng mà tiến
bước lên đường…”.
Thế nhưng cái khổ về thân xác làm sao sánh được cái khổ tinh
thần? Tối tối tôi phải ngồi cho muỗi cắn để dự những buổi họp thanh niên dài lê
thê sau một ngày lao động vất vả. Họp thanh niên để tẩy não, để thấm nhuần tư
tưởng cách mạng thì ít mà để nghe những lời khích bác, nhục mạ thì nhiều hơn,
đó là một cực hình tra khảo tinh thần đối với lớp thanh niên ít nhiều có học
như tôi. Ngồi họp cốt yếu là nghe. Nghe. Chỉ nghe mà không được hỏi lại dù lời
lẽ chướng tai vô cùng. Ai mà lỡ buột miệng hỏi là bị chụp mũ phản động, chống
cách mạng liền. Tôi thường cúi đầu cố nuốt nước mắt khi nghe những câu: “Đổi đời
rồi. Phải bắt bọn quần là áo lượt thay quần xăn áo ôm thôi”. Hay: “Tú tài ư? Chỉ
là nhét vào đầu cái thứ văn hoá đồi truỵ, phản động. Thà không học còn tốt
hơn”. Vậy mà cái bằng tú tài ấy lại bắt tôi phải gánh thêm một việc ngoài lao động:
đó là dạy các lớp bổ túc văn hoá về đêm. Ôi! Cái khổ đó ám ảnh tôi đến nổi khi
tham gia vào đám thanh niên đi “thuốn” mìn tôi cứ mong nổ ầm một tiếng cho nhẹ
gánh đời. (Đi thuốn mìn chỉ dành cho đám thanh niên “lạc hậu” từ phía Nam sông
Thạch Hãn trở về như tôi; còn các anh chị cán bộ hay thanh niên “tiến bộ” thì ở
cương vị chỉ huy. Họ tụ tập bên đường xa xa để mìn có nổ cũng không văng mảnh đến.
Họ trương băng cờ biểu ngữ, vác loa ra ca hát, hô hào và đánh trống cổ động.
Còn đám thanh niên như tôi thì mỗi đứa phải tự thuê rèn một thanh sắt nhỏ có đầu
nhọn, đầu cán gắn vào một khúc tre dài một mét rưởi. Khi “thuốn”, đám thanh
niên dàn hàng ngang lấy sức chọc đầu nhọn xuống đất, nếu đầu thuốn đụng vật cứng
sẽ cắm cờ trắng vào đó để công binh đến lấy sau. Lỡ có nổ ầm thì không thương
binh cũng liệt sĩ).
Nói chung, đám thanh
niên được xếp vào thành phần lạc hậu như tôi luôn được phân công làm những công
việc dơ bẩn, vất vả và nguy hiểm. Tôi nhớ những lần vào thành cổ lấy ri để làng
làm cổng chào và làm cầu. Cả một chiến trường xưa hiện ra trước mắt với xương
người trắng hếu ngỗn ngang, những chiếc đầu lâu rỗng hai hố mắt lăn lóc bên những
đầu đạn 79 vàng choé trong ánh nắng. Chúng tôi dùng xẻng, xà beng nạy những tấm
ri một cách khó khăn lại còn bị cây nọc rắn mọc hoang cào vào thân trầy xước
máu chảy ròng ròng. Lấy xong, cứ hai người khiêng một tấm ri từ thành cổ vể trụ
sở thôn chừng mười cây số. Chờ cán bộ điểm danh giao nộp xong tôi uể oải lết về
nhà thì gà đã gáy canh.
Một trưa gió lào nắng rát, tôi đang chuẩn bị xuống
đồng tiếp tục công việc buổi chiều thì em gái đang trọ học ở khu thị tứ Hải
Lăng tất tả đội nắng về nhà. Vừa thấy tôi nó hươ hươ mấy tấm giấy trên tay và
la lớn trong nỗi vui sướng: “Chị ơi! Chị có thể đổi đời được rồi”. Và tôi được
đổi đời thật dù để ký được lá đơn xin học sư phạm Gio Linh mạ tôi phải vất vả,
nhẫn nhục chầu chực để năn nỉ những quan chức địa phương hết hơi. Chờ mãi không
thấy giấy báo, em tôi lại lội nắng trưa về nhà bảo tôi ra trường xem thử chứ
các chị bạn của em ở khu thị tứ đã nhập học, nó còn nói chắc địa phương mình ém
giấy báo của chị rổi. Thế là tôi vội tìm đường ra Gio Linh lần nữa. Quý thầy
trong ban tổ chức ân cần trả lời khi tôi trình bày lý do - đúng là người có học
có khác. Sau đó thầy mở danh sách ra dò tên và bảo tôi rằng em có bằng tú tài
toàn phần nên sẽ vào trường CĐSP ở Huế, Gio Linh chỉ đào tạo giáo viên cấp 1.
Đoạn thầy đưa cho tôi một giấy báo nhập học mới cùng với lời chúc cầu mong em
được địa phương cho đi học. Lời chúc của vị thầy tôi không biết tên ngày ấy đã
thành sự thật, dù mạ tôi phải lần nữa chầu chực năn nỉ hết mấy ngày.
Cuộc đời tôi sang trang mới, dù cuộc sống vẫn còn
đầy khó khăn, thiếu thốn nhưng tinh thần tôi đã được giải thoát khỏi sự lưu đày
nơi chính quê nhà mình. Suốt mấy mươi năm đứng trên bục giảng tôi đã làm đúng
thiên chức của một người đưa đò tri thức. Những học sinh của tôi thuở ấy đa số
đã thành đạt và giữ những cương vị quan trọng khắp nơi. Tôi thầm nghĩ rằng thế
là mình đã không phụ công ơn dưỡng dục của cha mẹ; không phụ công dạy bảo, lòng
mong mỏi của thầy cô và xứng đáng là một cựu học sinh của Trường Trung học Nguyễn
Hoàng - Quảng Trị.
Bốn mươi năm đã trôi qua kể từ ngày chị em tôi vượt
qua con đường máu lửa để tìm sự sống. Bây giờ tôi ngồi đây - giữa thành phố
Biên Hoà trong một chiều cuối tuần yên ả - nhớ chuyện xưa mà cứ tưởng như mới vừa
hôm qua.
Vâng! Mới như vừa hôm qua thôi vì trong tâm trí
tôi vẫn in rõ mồm một từng gương mặt người thân, thầy cô, bạn bè thuở ấy. Mùa
hè năm ngoái, khi trở về Quảng Trị dự họp mặt trường xưa tôi thấy mình như bước
vào giấc mơ lạ. Quảng Trị - Thạch Hãn - những con đường, khu phố thân quen ngày
nào hoàn toàn thay đổi. Cả ngôi trường Nguyễn Hoàng cũng không còn vết tích gì,
tôi cúi tìm trên nền đất xưa một mảnh gạch vụn hay miếng ngói vỡ của Nguyễn
Hoàng năm nao nhưng làm sao thấy? Đúng là tang điền thương hải. Thầy cô và bạn
bè cũng đã da nhăn tóc bạc, tất cả đều thay đổi theo thời gian, còn chăng là tấm
lòng lưu luyến nhớ thương trường xưa thầy bạn cũ không bao giờ phai.
Ngày ấy xa rồi! Đã xa lắm rồi mà sao trong tôi vẫn
còn đọng lại?
Nguyễn Thị Nho
