Kinh Sách của Nước Vệ - Ph ạm Lưu Vũ
(trích Luận Ngữ Tân Thư)
Nghe nói đến viếng nhà có tang thì cơm không được
ăn no, rượu không được uống cạn. Về đến nhà rồi thì hết ngày không
ca hát, không cười cợt, quần áo phải thay ra, ba ngày không được gần
thê thiếp… Người đang có tang thì cả năm không đi dự giỗ chạp, khai
trương, cưới hỏi… của bất cứ nhà ai… Chắc không chỉ vì “Lễ“ quy
định
phải như vậy. Lại nghe nói sinh khí thuộc về dương, tử khí thuộc về
âm. Người thông minh, sáng suốt thuộc về dương, kẻ u mê, lú lẫn
thuộc về âm. Người lương thiện, tử tế thuộc về dương, kẻ bất lương, đểu
cáng thuộc về âm. Quân tử thuộc về dương, tiểu nhân thuộc về âm. Cả
đến thiện, ác; chân, ngụy cũng phân biệt như vậy, thiện thuộc về dương,
ác thuộc về âm, v.v… Thánh nhân đặt ra phép cúng tế quỷ thần, quy
định “Lễ“ đối xử với người chết chắc không phải vì Thánh nhân mê tín dị
đoan. Chính vì sợ sẽ diễn ra cái buổi âm thịnh, dương suy trên cõi
trần (gian) này vậy… Vẫn “Lời tựa“ trong Luận ngữ Tân thư. Sau đây lại
xin trích một phần của bộ sách đó:
Khổng Tử một hôm giảng về Lễ (phép tắc, pháp luật…).
Lễ của Ngài bao trùm cả cái nhẽ sinh tử của cuộc đời. Hết “sinh“ rồi
đến “tử“. Riêng “Lễ“ về “tử“ của Ngài thì chung quy chỉ bốn bài
sau đây là gồm hết.
Thứ nhất: Có cái chết là sự tiếp tục của những đạo
lý lớn trong thiên hạ (“Tử vi Thánh nhân“ -chết thành Thánh nhân, như
Nghiêu, Thuấn, Vũ, Văn Vương, Chu công …).
Thứ hai: Có cái chết là sự tiếp tục của một sự
nghiệp trong đời (“Tử vi hiền nhân“ -chết thành hiền nhân, như Cơ Tử, Tỷ
Can, Tử Văn, Quản Trọng…).
Thứ ba: Có cái chết đơn giản là sự trở về cõi vĩnh
hằng (“Tử vi sa trần“-chết thành cát bụi, lành như cát bụi, lẽ thường
của vạn kiếp sinh linh). Song để đạt được những điều đó, thì tất
cả những người chết đều phải được người sống đối xử sao cho đúng
với “Lễ“. Thuận
theo Lễ thì cát (gặp được yên ổn). Nghịch theo Lễ
thì hung (gặp phải hiểm họa), có khi hậu quả không biết thế nào mà lường
được. Cái đó gọi là: “Tử phù đạo tặc“ (cái chết giúp rập cho trộm
cướp).
Giảng đến bài này, Ngài nói: “Bản thân cái chết
không có lỗi gì. Chính những kẻ đang sống mới cố tình làm cho cái chết ấy
biến thành một hiểm họa trong đời đấy thôi“. Nói đến đó, Ngài bỗng trầm ngâm, chưa biết phải lấy thí dụ thế nào cho các học trò hiểu thì vừa
lúc ấy, gia nhân báo có người muốn xin vào gặp để biếu kinh sách.
Khổng Tử mừng rỡ nói:
“May quá! Kẻ mang cái thí dụ sinh động ấy đến vừa
kịp lúc, vừa kịp lúc."
Học trò nhìn nhau ngơ ngác, chưa hiểu Ngài nói thế
là có ý gì thì thấy một người ôm một chồng sách khệ nệ bước vào. Người
ấy mặt chuột tai lừa, đầu đội mũ cánh chuồn, trang phục cũng ra
dáng kẻ sĩ, chỉ tội ánh mắt hết sức u tối. Cẩn thận đặt những cuốn sách mạ
vàng lên một chiếc đôn, người ấy bước đến trước mặt Khổng Tử vái dài
một cái. Chưa kịp
nói gì thì Khổng Tử đã hỏi ngay:
“Tiên sinh từ nước Vệ tới đây có phải không?"
Người ấy giật nảy mình, trợn mắt kinh ngạc, hỏi:
“Cớ sao Phu Tử lại biết tôi là người nước Vệ?"
Khổng Tử trả lời:
“Trên người tiên sinh có mùi tử khí. Vì thế mà tôi
biết."
Người đó hoảng sợ rùng mình một cái. Vội vàng hỏi
tiếp, giọng có vẻ hơi bất bình:
“Chẳng hay Phu Tử muốn rủa tôi, mong cho tôi chết
sớm hay sao? Tôi đường đường đại diện cho kẻ sĩ của cả nước Vệ, còn
đang sống khoẻ mạnh, minh mẫn thế này. Tại sao Phu Tử lại bảo tôi
có mùi tử khí?"
Khổng Tử vẫn thản nhiên nói:
“Tất cả người nước Vệ hiện thời đều có mùi tử khí
hết. Vì thế, trong nước không ai ngửi ra đấy mà thôi. Khâu (tên tục của
Khổng Tử) này nghe nói tử thi thì phải được chôn xuống đất hoặc
đốt thành tro bụi. Nếu để quá một tuần (mười ngày), thì âm khí sẽ ám
đến phạm vi một thành. Quá trăm ngày, âm khí sẽ càng loang rộng
ra, ám đến phạm vi châu, quận… Hôm trước Khâu này xem thiên văn,
trông về hướng địa giới nước Vệ, thấy âm khí đã ám đến tận trời, trùm khắp
cả bờ cõi. Tất trong nước có tử thi đã để quá ba năm chưa chôn."
Người đó nghe nói thì sợ toát mồ hôi. Bèn nghĩ lại
việc nước mình. Quả vua Vệ là Linh Công chết đã lâu, nhưng đám con
cháu chỉ mải lo giành nhau ngôi báu, lại thấy cứ để như thế xem ra còn
có cớ mà tha hồ bịp bợm. Vì thế nhất quyết không chịu đem chôn. Thật
là những kẻ vì lợi mà sẵn sàng quên cả hiếu. Có biết đâu cái món âm khí ấy
nó lại ghê gớm
đến thế. Bèn hỏi:
“Vậy bây giờ Phu Tử bảo phải làm thế nào?"
Khổng Tử nói:
“Lại còn làm thế nào ư? Sở dĩ âm khí đã dâng lên
trùm kín cả bờ cõi, bởi nước Vệ của tiên sinh bây giờ, tất cả những gì
thuộc về âm đều đang thịnh, tất cả những gì thuộc về dương đều
đang suy, danh và thực đều loạn, thật và giả đều lẫn lộn. Điều ấy chỉ có
lợi cho bọn ăn cướp mà thôi. Đó chính là thời vận cực thịnh của lũ tiểu
nhân và những kẻ chuyên nghề trộm cắp, bịp bợm. Nay người chết thì
phải đem chôn, thế thôi. Có điều, đã nhiễm phải âm khí nặng như vậy
thì người nước Vệ đời nay tất bị u mê, lại hay trí trá lắm, khó mà tiếp
thu được đạo lý. Cứ tiếp diễn mãi như thế này, e rằng thế gian ngày
nay không tìm đâu ra một qui tắc nào khả dĩ có thể áp dụng cho người nước
Vệ được. Có lẽ phải đợi đến những đời sau may ra…"
Kẻ sĩ người nước Vệ tất nhiên chẳng đời nào chịu
công nhận những điều đó. Bèn hướng cặp mắt u tối về phía Khổng Tử mà
cãi:
“Nước Vệ tôi xưa nay rất chú trọng đến việc dạy
dân. Những kẻ sĩ danh giá đi lại ngoài đường, ngoài chợ đông như rắc trấu,
ai ai cũng có thể làm ra văn chương, thi phú, chính sự được ca tụng
hết lời, pháp luật mỗi ngày mỗi đẻ ra những cái mới. Trăm họ yên ổn
làm ăn, không ai nói ngược lại cái điều mà kẻ bề trên muốn nghe. Lại có
một nền giáo dục hoành tráng, vẫn thường tự đánh giá là cao nhất
nhì thiên hạ. Sao Ngài lại bảo người nước Vệ tôi u mê, trí trá, không tiếp
thu được đạo lý?"
Khổng Tử trả lời người kia mà như muốn nói với cả
các học trò của mình:
“Dạy học mà không hề thấy dạy cách làm người, chỉ
dạy cách làm tiền. Chưa học làm người đã bổ làm quan chỉ vì chạy chọt
hoặc là con ông, cháu cha. Thậm chí khối kẻ làm quan rồi mới đi học.
Lại còn tha hồ mua bán danh hiệu, quan tước… Thì đó là cái nền giáo dục
gì vậy? Dạy dân bằng đức hơn là bằng lệnh. Huống chi nước Vệ bây
giờ chỉ ra sức chú
trọng đến việc nhồi nhét cho học trò những kiến thức
sặc mùi âm khí, dùng bịp bợm làm quốc sách giáo dục, lấy đen làm
trắng, lấy không làm có, lấy ác làm thiện… Kẻ trên leo lẻo dối trá
không biết ngượng mồm, kẻ dưới uốn mình nịnh hót không biết xấu mặt. Lại
tùy tiện đẻ ra cái gọi là pháp luật để lừa mị, cưỡng ép người ta phải
công nhận mình. Lại nhân danh trăm họ để thi hành bạo ngược, không cho
ai có quyền được nghĩ tới chân lý, không cho phép ai được nói ra sự
thật, khiến cho người người u mê, nhà nhà lú lẫn, nhìn gà hóa cuốc,
nhìn kẻ cướp hóa người ngay, đánh đồng lưu manh với lương thiện… Từ
đó con người sinh ra thói nhịn nhục, đớn hèn, nhất nhất chỉ biết chạy
theo của cải, hư danh… Dạy dân như thế thì khác nào ngu dân có chủ
ý, ngu dân bằng mọi giá, mọi thủ đoạn. Cái gọi là nền giáo dục ấy càng
“hoành tráng“ bao nhiêu thì càng hỏng nặng bấy nhiêu. Làm hỏng một
nhà đã phải ăn năn, sám hối. Đằng này lại làm hỏng cả một nước thì tội
lỗi để đâu cho hết.
Thế mà không gọi là u mê, trí trá thì gọi là cái
gì?"
Kẻ sĩ người nước Vệ kia nghe Khổng Tử thuyết liền
một hồi như vậy mà vẫn không cho làm phải, nét mặt vẫn có vẻ ấm ức,
không phục. Quả là sự u mê đã ngấm đến tận xương tuỷ. Phải cái tội y
đang ở vào địa vị là khách, chẳng lẽ lại cãi nhau mãi với bậc Thánh
nhân đã nức tiếng thiên hạ này. Song nghĩ bụng cũng phải cố vớt vát thêm
vài câu để giữ thể diện quốc gia. Y bèn chỉ vào đống sách mang theo và
nói:
“Phu Tử bảo người nước Vệ tôi hiện toàn những kẻ u
mê, trí trá. Vậy sao lại có thể viết ra những cuốn kinh sách, những
bộ giáo khoa mạ vàng như thế này được. Chính tôi được sai mang
sang đây tặng Phu Tử, để Phu Tử bổ sung vào kho tàng kinh sách của Ngài
cho thêm phần phong phú đấy."
Khổng Tử nghe y nói thì vội vàng dùng một tay kéo
vạt áo lên che mặt, tay kia xua lấy xua để mà bảo:
“Mang về ngay đi. Mang về ngay đi. Những thứ gọi
là kinh sách với lại giáo khoa gì đó của nước ngài càng nặng mùi âm khí
lắm. Nước Lỗ ta từ lâu đã vứt hết vào sọt rác rồi. Không tin ngài cứ
ra ngoài bãi rác mà bới thử xem. Hãy tìm trong những mớ giấy lộn ấy,
may ra vẫn còn sót một ít đấy."
Kẻ sĩ người nước Vệ đành tiu nghỉu ôm đống kinh
sách của nước mình ra về. Bài giảng của Khổng Tử về “Lễ“ đến đó cũng vừa
chấm dứt. Hôm ấy, trong số các học trò ngồi nghe Khổng Tử
nói, có Tử Lộ (Trọng Do) là người cũng không hẳn tin rằng nước Vệ lại hỏng
đến mức ấy, bèn quyết chí sang bên đó làm quan một phen xem sao. Tử
Lộ những tưởng với
đức độ, học vấn và cái dũng của mình, thì có thể cứu
được dân chúng nước Vệ thoát khỏi mê muội, gian xảo chăng! Kết quả
việc không thành. Tử Lộ chưa kịp thi thố điều gì thì đã bị chết bất
đắc kì tử tại ngay chính nước Vệ. Thế mới biết cái thứ âm khí ấy ở nước
Vệ quả là rất độc đối với người quân tử. Thương thay! Có lẽ từ câu
chuyện trên mà về sau, các nhà chép sử thường ca ngợi nước Lỗ là một
nước có “Lễ“ sáng sủa nhất thiên hạ thời bấy giờ chăng?
Phạm Lưu Vũ
